Thursday, March 5, 2026

Bạn có biết: Có 3 vị Triệu Đà đều là các đời Hùng Vương nước Việt

 Đại Việt sử ký toàn thư chép: Triệu Vũ Đế ở ngôi bẩy mươi mốt (71) năm, thọ một trăm hai mươi mốt (121) tuổi. Với tuổi thọ xưa nay… không hề có này thì chắc chắn rằng kỷ Vũ Đế nhà Triệu không phải chỉ có 1 vị vua Triệu Đà. Khảo chứng các tư liệu từ các góc độ khác nhau cho phép nhận ra có tới 3 nhân vật đều được gọi là Triệu Đà và cả 3 đều là các đời Hùng Vương kế tiếp nhau trong một giai đoạn lịch sử bản lề của người Việt.

Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng thuộc xã Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Tần Vương đánh Thục, xây thành Cổ Loa

Tấm bia thời Lê năm Chính Hòa thứ 10 (1689) có tên “Chính Pháp điện thạch bi” ở đền Thượng Cổ Loa chép: Đại Việt suy tôn An Dương Vương là hoàng đế, khởi từ đất Ba Thục, định đô ở Phong Khê, lấy nỏ rùa thần đuổi quân Tần, xây thành trì mà cố thủ, ngàn dặm nhập vào nước Âu Lạc ta. Theo tấm bia này thì việc An Dương Vương đã dùng nỏ thần là để chống lại quân Tần, chứ không phải Triệu Đà như thường kể. Vậy Triệu Đà trong truyền thuyết thực ra là chỉ quân Tần vì nhà Tần vốn mang họ Triệu. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, thủy tổ của Tần là Tạo Phụ đánh xe cho Chu Mục Vương và được phong đất ở Triệu thành, từ đó lấy tên đất làm họ.

Ở am thờ công chúa Mỵ Châu trong Cổ Loa trên bảng gỗ có khắc một bài thơ cổ, có đoạn thơ được dịch giả Đỗ Văn Hỷ dịch như sau:
Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai?
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài.
Điều lạ là bài thơ gọi mối tình của Mỵ Châu và Trọng Thủy là “Tần Việt nhân duyên”. Công chúa Mỵ Châu là Việt thì đã rõ. Như thế, còn lại Trọng Thủy phải là hoàng tử của vua Tần, họ Triệu.

Câu chuyện tình ngang trái Mỵ Châu – Trọng Thủy kể về sự kết thúc của nhà Thục bởi sự tấn công bất ngờ của quân Tần. An Dương Vương từng xây thành đắp lũy để chống Tần, nhưng cuối cùng cơ đồ đã mất. Tần chiếm được thành Cổ Loa, kinh đô phồn hoa bậc nhất khu vực phương Nam khi đó.

Báo cáo khảo cổ thành Cổ Loa cho biết, các bức thành chính được xây ở quãng thế kỷ thứ III TCN chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu đắp bằng cách đổ đất. Giai đoạn sau là áp dụng “công nghệ” nện đất, tương tự với kỹ thuật đắp thành ở phương Bắc khi đó. Với lớp đắp ở thành Trung cao tới 2,5m, rộng 24 m, các nhà khảo cổ đã tính toán lượng khối lượng đất đá cần khai thác, vận chuyển lên đến hàng triệu mét khối. Lượng nhân công huy động cho đắp thành lên tới hàng vạn người làm việc liên tục trong 3 năm. Vậy nếu lớp thành đầu được xây bởi An Dương Vương thì lớp thành tiếp theo phải là do nhà Tần xây dựng. Chỉ có nhà Tần vào giữa thế kỷ thứ III TCN mới đủ tiềm lực, nhân lực để xây nên tòa thành lớn nhất Đông Nam Á này.

Trong đền Thượng Cổ Loa có ban thờ quan Tứ trụ triều đình. Một trong 4 vị tứ trụ này là Hữu Thừa tướng Lý Ông Trọng. Đức thánh Chèm Lý Ông Trọng được biết rõ là một đại tướng của nhà Tần, lấy con gái của Tần Thủy Hoàng là Bạch Tĩnh Cung công chúa và được cử đi trấn thủ người Hồ ở đất Lâm Thao. Xem vậy thì người đã trấn thủ Loa thành dưới thời Tần, không ai khác chính là Lý Thân, phò mã của Tần Thủy Hoàng.

Đình làng Đình Vỹ, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm thờ vị thần là Quý Minh Đại vương, mà theo thần tích ở đây chính là Trọng Thủy, con của Triệu Đà. Làng Đình Vỹ cùng với các làng Đa Vạn, Song Tháp, phường Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh gần đó thờ Triệu Vũ Đế và có chung bản thần tích có tên là Ký sự đền linh họ Triệu. Câu chuyện bi thương Trọng Thủy – Mỵ Châu bên thành Cổ Loa được ghi chép theo một cách khác lạ, chưa từng được biết trong thần tích này:

Vương rút kiếm chém Mỵ Châu, rồi theo Kim Quy mà đi. Sau vài tháng Trọng Thủy, Trương Hống, Trương Hát dẫn quân đuổi tới cửa Biện, thấy thi thể Mỵ Châu đeo một chiếc túi, hai chiếc thoa vàng, đúng là tích vật. Trọng Thủy cầm túi mà khóc, tình vợ chồng từ nay ly biệt. Rồi ôm Mỵ Châu trở về thành Ốc, an táng ở núi Yên Phụ. Tháng 4 vào đầu giờ Dần ngày mồng 5, lấy dao trúc mà giết Ngỗng tế Mỵ Nương. Do cảm động nghĩa tử thê lương, người dân Yên Phụ đắp một mộ phần phụng sự. Đến xã Nội Trà ngày 10 tháng 4 nằm mộng mà chết. Dân Nội Trà cũng đắp một mộ phần. Nhân dân phụng sự đem về thành Ốc an táng thành mộ phần. Tới tháng 6 ngày 10, thấy bóng hình Mỵ Châu ở trên giếng, thấy Toán tâm tính mất hết mà đi ra. Toán quay đầu muốn đuổi theo ôm lấy bóng hình mà không được, rơi xuống đáy giếng mà chết.

Như đã nhận định ở trên, Trọng Thủy là vương tử của nhà Tần Triệu thời kỳ đầu, khi đánh An Dương Vương ở thành Cổ Loa. Con của Trọng Thủy là Triệu Lạc Linh lên ngôi xưng Đế, tương ứng là Tần Thủy Hoàng Đế. Còn phần chép về Triệu Đà trong Ký sự đền linh họ Triệu lại là chuyện của Triệu Vũ Đế thời kỳ Tần mạt.

Chính pháp điện bi ký ở đền Thượng Cổ Loa.

Long Hưng Triệu Vũ Đế khởi nghĩa kháng Tần

Đền Đồng Sâm có lưu bản thần tích, ghi là thần tích xã Thượng Gia, tổng Đồng Sâm. Theo như ghi chép trong đó thì thần tích Thượng Gia đã được các cụ bô lão ở địa phương sưu tầm từ nhà quan Thượng thư bộ Lễ ở Vĩnh Phúc, kết hợp với các nguồn sử sách có được mà biên soạn nên. Đồng Sâm là nơi thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu, tương truyền đây là nơi hai người gặp gỡ trên đất quê của Hoàng hậu Trình Thị.

Câu đối ở đền Đồng Sâm:
炎郊創始與圖保龍父僊母之子孫同大漢時雙帝國
戚里屹成宫闕萃茶海桐江之靈秀亦潘隅外弌神京
Viêm Giao sáng thủy dư đồ, bảo long phụ tiên mẫu chi tử tôn, đồng đại Hán thời song đế quốc
Thích lý ngật thành cung khuyết, tụy Trà hải Đồng giang chi linh tú, diệc Phan Ngung ngoại nhất thần kinh.
Nghĩa là:
Khởi sáng cơ đồ chốn Viêm Giao, cha Rồng mẹ Tiên che chở cháu con, ngang thời nhà Hán hai đế quốc
Lập nên cung quán nơi quê ngoại, sông Vông biển Trà tụ họp linh tú, cùng ngoài Phiên Ngung một kinh thành.

Thần tích Thượng Gia kể: Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi). Tiếp đó thần tích kể Triệu Đà đi đến trang Đường Sâm, lấy nàng Lan con gái họ Trình ở đây, sinh ra Trọng Thủy. Triệu Đà cho lập hành cung tại Đường Sâm, sau này là nơi thờ tự Triệu Đà và Hoàng hậu Trình Thị.

Nguyên văn chữ Nho của đoạn kể trên về Triệu Đà: “Đế vi Long Xuyên lệnh (tức Nam Hải huyện), lĩnh trích đồ thú Ngũ Lĩnh”. Đoạn thông tin này bị hiểu là Triệu Đà dẫn đám dân đi lính thú của nhà Tần tấn công nước Việt. Nhưng đọc kỹ thì không phải vậy. Hiểu chính xác phải là Triệu Đà được cử làm huyện lệnh Long Xuyên, cũng là huyện Nam Hải. Triệu Đà nhận lĩnh việc đưa những người phu dịch (“đồ”) đến vùng Ngũ Lĩnh. Làm gì có chuyện những người có tội bị biếm trích lại là quân lính để tấn công phương Nam. Đây là việc nhà Tần tăng cường nhân công cho việc xây dựng ở nước Nam, tương tự việc phu dịch xây Vạn lý trường thành ở phía Bắc. Triệu Đà là một lệnh trưởng chịu trách nhiệm dẫn dân phu đến vùng núi Ngũ Lĩnh.

Đoạn trích trên cũng cho biết, Triệu Đà đi đến vùng đất Thái Bình (Đồng Sâm), rồi lấy vợ, sinh con, còn lập cả hành cung (dựng nhà để ở) tại đó. Vậy là Thái Bình hay vùng Bắc Việt lúc này đã nằm trong lãnh thổ của nhà Tần thì Triệu Đà mới có thể ngụ cư, làm huyện lệnh và dẫn dân phu đi đến đó.

Đền Đồng Sâm là đền chính được nhiều nơi trong vùng tham gia phụng sự như: thôn Đa Cốc, xã Thanh Bình; thôn Đồng Sâm, xã Hồng Thái; xã Quốc Tuấn. Ngoài ra còn có làng Đông Thổ, xã Lê Lợi nay vẫn còn nhiều sắc phong cho Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng Hậu. Ngoài huyện Kiến Xương thì khu huyện Hưng Hà, thôn Quan Hà, xã Cộng Hòa có di tích thờ cả Triệu Vũ Đế và Triệu Việt Vương. Bên huyện Thái Thụy có di tích thôn Tuấn Nghĩa, xã Thái Thành và thôn Cam Đoài, xã Thụy Liên thờ Triệu Đà. Hiện chùa Cam Đoài vẫn lưu giữ được sắc phong và bài vị cổ thờ Triệu Đà.

Câu đối của Nguyễn Công Trứ đề ở đền Đồng Sâm:
當年戈馬低刘項
自昔山河截北南
Đương niên qua mã đê Lưu Hạng
Tự tích sơn hà triệt Bắc Nam.
Nghĩa là:
Đang thời giáo ngựa khinh Lưu Hạng
Từ đó non sông tách Bắc Nam.
Câu đối này cho biết Triệu Vũ Đế nổi lên cùng thời với Lưu Bang và Hạng Vũ, tức là khởi nghĩa chống Tần mà lập quốc.

Sử ký Tư Mã ThiênTần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đó canh giữ.

Sách Hoài Nam tử cho biết tiếp: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.

Người Tuấn kiệt” lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi của dân Âu Lạc là ai? Các sử gia đời nay cho rằng đó là Thục Phán. Nhưng năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đã đánh chiếm vùng đất Việt, lập quận huyện đầy đủ, còn đâu nước nào nữa mà có Thục An Dương Vương? Nếu An Dương Vương là người kháng Tần những năm 216 – 207 TCN, thì Tần đã đánh ai ở đất Lục Lương năm 216 TCN?

Dịch Hu Tống có thể đọc thành Dịch Hậu Tông, nghĩa là dòng dõi cuối cùng của Dịch Vương. Dịch Vương là Chu Văn Vương, người đã viết Kinh Dịch, mở đầu vương triều Chu của Trung Hoa. Dịch Hu Tống, dòng dõi cuối cùng của nhà Chu là Chu Noãn Vương, đã bị Tần diệt năm 256 TCN ở đất Âu Lạc. Vương triều Chu Thục như vậy đã kết thúc năm 256 TCN, nên người lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần không phải là dòng dõi vua Thục.

So sánh thời gian này với hành trạng của Triệu Đà. Triệu Đà làm huyện lệnh Long Xuyên, rồi được Nhâm Hiêu trao lại quyền cai quản ở Nam Hải. Tiếp theo Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN] (Tần Nhị Thế năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương.

Triệu Đà chứ không phải ai khác vào năm 207 TCN đã chiếm lại 3 quận Quế Lâm (hoặc Lâm Ấp), Tượng Quận và Nam Hải mà Tần thành lập trên đất Việt năm 216 TCN. Vì vậy Triệu Đà mới là “người Tuấn kiệt” đã lãnh đạo nhân dân Âu Lạc kháng Tần thắng lợi được nhắc đến trong sách Hoài Nam tử.

Sách Hoài Nam Tử ghi: [Nhà Tần] sai Úy Đà Đồ Thư đem lâu thuyền xuống Nam đánh Bách Việt… Làm sao Đồ Thư lại là Triệu Đà được? Đúng hơn phải hiểu: Đà = Đầu = Đô. “Úy Đà Đồ Thư” nghĩa là Đô úy Đồ Thư. Úy Đà là chức vụ chứ không phải tên riêng. Như vậy Triệu Đà có nghĩa là vua Triệu đầu, không phải tên thật của Triệu Vũ Đế. Càng không phải Triệu Đà đã cùng Đồ Thư dẫn quân Tần đánh Bách Việt.

Một tư liệu khác nói về Triệu Đà là lời trăn trối của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn với vua Trần Anh Tông khi nhà vua hỏi kế sách đối phó với giặc phương Bắc. Hưng Đạo Vương tâu rằng: “Nước ta thuở xưa, Triệu Vũ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Vũ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Trường Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời…“.

Lời kể của Hưng Đạo Vương về hành trạng Triệu Vũ Đế xét kỹ thì thấy không giống gì với chính sử hiện nay. Triệu Đà khởi nghiệp ở Nam Hải tại Quảng Đông thì còn mang đại quân sang “châu Khâm, châu Liêm” đánh chiếm làm gì nữa? Kỳ lạ hơn, Triệu Đà còn dùng kế vườn không nhà trống và lối đánh “du kích”, dùng đoản binh để chống giặc phương Bắc. Nhà Hán có tấn công chiếm lãnh thổ Nam Việt thời Triệu Đà lúc nào đâu mà phải bỏ cả ruộng đồng để đánh du kích? Lời kể của Trần Hưng Đạo chỉ có thể hiểu được nếu Triệu Đà chính là người đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần, bắt đầu từ huyện Long Xuyên (Long Biên) rồi mới tiến sang chiếm châu Khâm, châu Liêm và các quận khác. Lối đánh vườn không nhà trống, dùng đoản binh của Triệu Vũ Đế được Trần Hưng Đạo noi theo là cách người Việt bỏ vào rừng, ngày trốn, đêm ra đánh Tần như Hoài Nam tử đã kể.

Chuyện người Tuấn kiệt chống Tần rất giống chuyện của Hiếu Cao Tổ Lưu Bang trong Hoa sử. Sử ký Tư Mã ThiênCao Tổ bản kỷ cho biết Lưu Bang vốn là một đình trưởng nhỏ ở đất Bái, khi thay mặt huyện đưa những người bị đày đến Lịch Sơn, giữa đường nhiều người bỏ trốn. Lưu Bang tự xét đến nơi thì tất cả đều sẽ trốn hết, cho nên khi đến cái đầm ở phía Tây ấp Phong thì dừng lại, đang đêm, thả tất cả những người bị đày ra rồi cùng họ vào núi Mang Đường trốn tránh.

Việc đưa những người đi đày cũng trùng với thời điểm năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn dời từ quận Tam Xuyên sang 2 quận lân cận. Sự kiện Lưu Bang thả dân phu giữa đường áp giải và bắt đầu cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Tần có thể tính từ năm này.

Thần tích Thượng Gia kể: Năm thứ 50 đời An Dương Vương (Tần Nhị Thế năm thứ 2), Nhâm Hiêu bệnh nguy kịch nói với Đế rằng: “Nghe nói bọn Trần Thắng làm loạn, lòng dân chưa biết theo ai. Đất này là nơi hẻo lánh, ta sợ bọn giặc xâm phạm đến đây nên muốn cắt đường mà tự phòng bị (là nơi Tần mở đường qua Việt), đợi xem các nước chư hầu biến động ra sao. Nhà Tần đã mở một con đường độc đạo để đi sang Việt. Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng thường “Đông du”.

Thần tích Thượng Gia kể tiếp: Đến khi bệnh nguy cấp Nhâm Hiêu nói: “Đất Phiên Ngung dựa núi cách sông, Đông Tây mỗi chiều dài mấy nghìn dặm, lại có người Tần giúp đỡ, nên cũng đủ để dựng nước hưng vương, làm chủ một phương. Các vị trưởng sử trong quận không ai có thể bàn được, chi nên phải triệu ông đến bảo”. Nhân đó cho Đế thay mình. Nhâm Hiêu mất, Đế lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng: “Quân giặc đã đến. Các quân binh cắt đường tự thủ”. Hịch truyền đến các châu huyện đều hưởng ứng theo. Thế rồi giết hết các trưởng sử do Tần cắt đặt, thay bằng những người bạn bè thân thích của mình cai quản. Rồi phát binh đánh Thục Vương.

Đoạn thần tích này nói Triệu Đà đã tiếp ý của Nhâm Hiêu, loại bỏ các quan của Tần ở trong quận, nhưng lại “phát binh đánh Thục Vương”. Đã giết các trưởng sử của Tần thì phải phát binh đánh Tần mới đúng. Tất cả sự trùng hợp về không gian, sự kiện nêu trên cho thấy Thục Vương trong chuyện Triệu Đà là chỉ nhà Tần. Người đã khởi nghĩa kháng Tần trên đất Việt không phải ai khác chính là Triệu Đà.

Về núi Trâu Sơn Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể: Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang. Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức Ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu… Sau các tướng Nhâm Hiêu, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam, đóng quân ở núi này.

Truyện kể Thôi Vỹ là con Thôi Lượng sau khi chữa bệnh cho Nhâm Hiêu, ngã xuống hang tại núi Trâu Sơn, lạc vào Ân Vương thành, được Ân hậu tiếp đãi tiệc rượu… Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Hiêu đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”. Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương trên núi Trâu Sơn. Đoạn trích này là dữ liệu cho biết khu vực núi Trâu Sơn từng có chùa thờ Triệu Việt Vương, tức là thờ Triệu Đà.

Dấu vết thờ Triệu Vũ Đế ở Bắc Ninh còn lưu giữ ở 2 khu vực. Một là ở 2 làng Song Tháp và Đa Vạn ở thị xã Từ Sơn. Hai là ở 6 làng thuộc huyện Quế Võ là Hữu Bằng, Cựu Tự, Kim Sơn, Long Khê (xã Ngọc Xá), Châu Cầu, Thất Gian (xã Châu Phong). Các ngôi đình của 6 làng này trước đây thờ Triệu Vũ Đế làm thành hoàng làng, nay đều đã không còn. Duy nhất ở chùa Hữu Bằng (Ngọc Xá, Quế Võ) còn giữ được một bức tượng gỗ Triệu Vũ Đế, tuy đã bị hư hỏng khá nặng.

Thông tin về di tích thờ Triệu Đà ở Bắc Ninh như trên thoạt xem tưởng không có gì quan trọng so với các khu vực khác thờ Triệu Đà là Thái Bình (đền Đồng Sâm) hay Hưng Yên (đình Xuân Quan), nhưng đây lại thực là thông tin quý giá và mới mẻ về công nghiệp của Triệu Vũ Đế ở nước ta. Tại sao khu vực huyện Quế Võ lại từng có đậm đặc tục thờ Triệu Vũ Đế như vậy? Nơi này gắn với công nghiệp của vị đế vương đầu tiên của nước Nam Việt như thế nào?

Trước hết cần nhận ra rằng khu vực huyện Quế Võ (Bắc Ninh) chính là địa danh Vũ Ninh với núi Trâu Sơn, là địa danh hay được nhắc tới trong truyền thuyết Việt. Trâu Sơn nay gọi thành Châu (Châu Phong, Châu Cầu), nằm gần khu vực Lục Đầu Giang, trên tuyến đường quốc lộ 18 ngày nay. Đây là địa bàn rất thuận tiện cho việc giao thông cả thủy lẫn bộ, lại có núi đồi và sông nước, khá hiểm trở dễ cho việc ẩn náu, phòng thủ, tiến lui.

Cũng Truyện Giếng Việt như trên cho biết Trâu Sơn là nơi mà hai tướng Nhâm Hiêu và Triệu Đà đã đóng quân vào thời Tần. Nhiều thần tích khác cũng kể về việc Triệu Đà khi đánh nước Âu Lạc đã từng đóng quân ở Vũ Ninh. Như vậy nguyên do của tục thờ Triệu Đà ở đây là vì nơi đây từng là một nơi đồn quân quan trọng của Triệu Vũ Đế.

Tuy nhiên, vấn đề khó lý giải ở chỗ là nếu chỉ chiếu theo chính sử thì Triệu Đà chưa từng sang miền Bắc nước ta bao giờ. Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (ở Quảng Tây?), thay Nhâm Hiêu ở Nam Hải (Quảng Đông?), rồi chiếm Quế Lâm, Tượng Quận lập nên nước Nam Việt. Mãi tới sau khi Cao Hậu nhà Hán mất, Triệu Đà mới “nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Sử ký Tư Mã Thiên). Vậy tại sao lại có nhiều di tích của Triệu Đà ở Bắc Việt như vậy? Triệu Đà lấy vợ ở Thái Bình khi nào? Đóng quân ở Bắc Ninh khi nào? Thấy rồng bay lên ở Long Biên khi nào?

Di tích và tư liệu dân gian rõ ràng nói những điều khác so với cách giải thích của chính sử ngày nay về Triệu Đà. Những địa danh và những câu chuyện về thời khởi nghĩa của Triệu Đà đều nằm ở Bắc Việt. Nói cách khác, Triệu Đà vốn khởi nghĩa ở miền đồng bằng sông Hồng, chống lại nhà Tần. Đây là cuộc khởi nghĩa của người Việt kháng Tần như sách Hoài Nam tử đã chép.“Người Tuấn kiệt” được nói tới là Triệu Đà, chứ không phải An Dương Vương như sự “tưởng tượng” của các sử gia ngày nay. “Quân trưởng Tây Âu” đã bị giết rồi, làm gì còn An Dương Vương nào lúc này nữa.

Chuyện người Việt bỏ vào rừng, “đánh du kích” chống quân Tần là lời giải cho tục thờ Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn. Trâu Sơn là điểm đóng quân phòng thủ rất thuận lợi như đã nói ở trên, là nơi mà Triệu Đà đã cầm đầu người Việt dựa vào thế sông núi vùng Lục đầu giang mà chống Tần.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: … (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33) nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh. Quận Tam Xuyên thời Tần vốn là đất của Đông Chu đã bị gộp chung thành quận Nam Hải. Tam Xuyên còn gọi là Long Xuyên vì hai chữ Tam và Long dùng đổi cho nhau, Tam là con số 3 chỉ phương Đông, phương của Rồng trong Dịch học.

Nhâm Hiêu được nhà Tần bổ làm quan ở quận Long Xuyên chứ không phải Nam Hải. Dẫn chứng rõ ràng là Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái: … khi Tần Thủy Hoàng bổ Nhâm Hiêu làm quan lệnh Long Xuyên, Nhâm Hiêu cấm không được nạp lễ người sống, thần Xương Cuồng tức giận vật chết Nhâm Hiêu. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái cũng xác định thêm điều này. Thôi Vỹ chữa bệnh cho Nhâm Hiêu rồi bị ngã xuống hang tại vùng Vũ Ninh. Nhâm Hiêu không thể ở đâu xa ngoài vùng đất Long Biên – Bắc Ninh ngày nay.

Triệu Đà làm quan của huyện Long Xuyên và được Nhâm Hiêu trao lại quyền hành. Như vậy Nhâm Hiêu là quan tiền nhiệm của Triệu Đà ở Long Xuyên. Có thế thì việc Nhâm Hiêu trao quyền cho Triệu Đà mới hợp lẽ. Nếu Nhâm Hiêu ở Nam Hải, Triệu Đà ở Long Xuyên thì làm sao mà trao quyền được? Tại sao Nhâm Hiêu trao quyền lại cho Triệu Đà? Vì sao mà quan của một quận lớn lại dễ dàng từ bỏ chức vụ quyền hành cho người khác? Lý do việc này đã được Sử ký Tư Mã Thiên chép trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện:

Nhâm Hiêu, ốm sắp chết, mời huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà đến nói:
– Tôi nghe bọn Trần Thắng làm loạn. Nhà Tần làm điều vô đạo, thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng Vũ, Lưu Quý, Trần Thắng, Ngô Quảng đều dấy binh tụ tập quân sĩ, tranh giành thiên hạ. Trung Quốc loạn lạc chưa biết lúc nào yên. Những người hào kiệt phản Tần đều đứng lên cả. Nam Hải ở nơi xa lánh, tôi sợ quân giặc xâm lấn đến đây, nên định dấy binh chặn đứt con đường mới để tự phòng bị, đợi chư hầu có sự thay đổi.

Nhâm Hiêu ốm sắp chết thì còn quan tâm chuyện thiên hạ làm gì? Nguyên nhân sâu xa của việc mời Triệu Đà đến là Nhâm Hiêu thấy thiên hạ nổi lên chống Tần khắp nơi, sợ hại đến mình, muốn “tự phòng bị” nên gọi Triệu Đà đến để gánh đỡ gánh nặng này.

Nhâm Hiêu khi nói với Triệu Đà có đề cập đến việc “chặn đứt con đường mới”. Đây là con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở (Tần Thủy Hoàng bản kỷ)Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở đi ra biển là qua quận Nam Hải, nơi Nhâm Hiêu và Triệu Đà sau đó cai quản. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng đã đi tuần thú ở phía Đông năm thứ 37 (211 TCN): lên Cối Kê tế vua Vũ, nhìn ra biển Nam Hải dựng đá khắc công đức nhà Tần.

Nhâm Hiêu không ốm chết mà… bị thần Xương Cuồng tức giận “vật chết”. Viên huyện lệnh Long Xuyên là Nhâm Hiêu đã bị nhân dân Long Xuyên nổi dậy giết, rồi họ tôn Triệu Đà lên làm thủ lĩnh, vì ai cũng sợ kháng Tần không thành công, phải chịu hậu quả.

Nơi Triệu Đà bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần là Long Xuyên. Long Xuyên hay Long Biên chỉ là 2 cách đọc khác nhau của quận Tam Xuyên thời Tần. Theo dịch học thì số 3 (Tam) là chỉ phương Đông, tượng trưng bởi con rồng. Long Biên ngày nay là nơi có điện Long Hưng thờ Triệu Vũ Đế ở làng Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam dựa vào các tư liệu cũ chép sự tích đền Long Hưng như sau: Triệu Đà người huyện Chân Định, đầu thời Tần làm quan lệnh Long Châu, sau làm Nam Hải úy. Đến đời Hán được phong làm Nam Việt Vương. Triệu Đà cho con cầu hôn nhà Thục để lấy bí mật nỏ thần, nhân đó diệt nhà Thục lập ra nhà Triệu. Tương truyền Triệu Đà đi tuần phương Nam qua xã Nam Quan thấy có rồng vàng hiện ra, cho là đất lành bèn dựng hành cung, gọi là điện Long Hưng. Về sau dân dựng đền thờ trên nền điện cũ. Triệu Đà là thấy rồng vàng bay lên ở Long Hưng, bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần. Rồng bay lên là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, chỉ việc thành nghiệp của bậc đế vương.

Theo Thiên Nam ngữ lục thì Triệu Đà khi tiến quân từ Quảng Đông đánh An Dương Vương đã thấy rồng xuất hiện trên sông Nhị Hà:
Binh phân chi dực hữu chi
Triệu thuyền thẳng tới đỗ kề bên sông
Bỗng đâu thấy rồng nổi lên
Dự mừng thánh chúa lập nên cơ đồ.

Khi họ Triệu diệt được An Dương Vương, xưng vua thì do đó mà đổi tên thành Thăng Long:
Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.
Có thể thấy khả năng tên thành Thăng Long là do Triệu Vũ Đế đã đặt cho vùng đất quanh Hà Nội ngày nay, với trung tâm ở khu vực ven sông Hồng thuộc Gia Lâm – Văn Giang.

Câu đối ở điện Long Hưng (Xuân Quan, Long Biên, Hà Nội) khẳng định Triệu Vũ Đế tiếp nối thời Hùng Vương:
拔地巍崔芳蹟不随秦漢去
冲天砥柱英標長揭貉雄來
Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ
Xung thiên để trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai.
Nghĩa là:
Bạt đất cao lồng, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán
Động trời cột ngọc, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

Đền Đồng Sâm ở xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu trên quê ngoại.

Triệu Việt Vương lập quốc Nam Việt

Thần tích xã Hạ Mạo, Phú Thọ: Xưa Hùng Vương đời thứ 17 là Hùng Huy Vương sinh người con trai thứ tên là Hùng Ánh. Hùng Ánh thiên tư dũng lược, diện mạo lạ thường, thông minh nhanh hiểu biết, vượt trội hơn người anh. Huy Vương yêu quý muôn lập làm người nối ngôi. Chàng Ánh cố gắng nhường cho anh. Khi ấy phong tục còn chất phác. Các con vua đều gọi là quan chàng, cho nên có tên là quan Chàng Ánh. Đến khi Duệ Vương nối ngôi, phong Chàng Ánh làm Vương tử, ban cho họ Lê.

Khi giặc Thục đến xâm lăng, Chàng Ánh chỉ huy quân binh, có công chống Thục. Từ đó Chàng Ánh nắm quyền triều chính. Duệ Vương về sau trở nên biếng nhác, chìm đắm trong hoan lạc, không quan tâm đến chính sự, việc binh quốc gia buông lỏng. Chàng Ánh hết sức can ngăn nhưng Duệ Vương không nghe. Chán ngán, Chàng Ánh đi ra bộ ngoài, không muốn tham dự vào chính sự quốc gia. Sau giặc Thục đánh Duệ Vương, thế nước nhà Hùng mất. Chàng Ánh rất hận mới luyện binh tuyển tướng, cẩn thận giữ gìn cương giới, bèn tự xưng là Hậu Hùng Vương, không thần phục An Dương Vương. Xưng là nước Việt Tây, nay là Quảng Tây.

Vợ vương là con gái Đông Chu Quân có mang 3 năm, sinh một bầu năm con trai vào giờ Ngọ ngày 14 tháng 3 năm Mậu Thân. Đến khi trưởng thành đều có tướng mạo khác thường, mũi cao, mắt xếch. Một người trên đầu có 7 chấm đỏ, sau lưng có 27 nốt ruồi đen. Một người một tay dài quá gối, mắt xếch tới tai. Một người mắt phượng mũi rồng. Một người mặt vuông tai to, râu đen, tóc xanh, thân dài 10 thước. Năm chàng đều là những người phi thường. Hùng Vương rất vui mừng, hoàng hậu chưa đặt tên nên nhân theo cổ tục khi đó đặt là Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Chàng Tư, Chàng Út mà gọi.

Gặp lúc có tướng Tần Triệu Đà dẫn quân chiếm phương Nam. An Dương Vương có nỏ thần, quân Triệu gặp nhiều thất bại. Hùng Vương (tức là Chàng Ánh, Hậu Hùng Vương ở Việt Tây) sai Chàng Hai đến quân Tần nói với Triệu Đà rằng:
– An Dương có thù với chúng tôi. Nay phụng nghe đại quân đánh Thục, nước tôi tuy nhỏ cũng xin dẫn ba ngàn quân trợ giúp. Tôi vì báo thù mà trợ giúp ngài định quốc..

Đà bèn cử sứ về nước sai con trai Trọng đến thông hiếu kết nghĩa, sau lại cầu hôn với An Dương để cho Trọng làm con rể, ở đó trộm lấy phá hủy lẫy nỏ. Trọng về báo, phát sứ sang Việt. Hùng Vương bèn lệnh Chàng Út dẫn ba ngàn quân giúp Triệu Đà đánh Thục chiếm nước thành công. Triệu Đà lên ngôi là Vũ Đế, nhưng vẫn cắt Quảng Tây cho Việt.

Theo thần tích Hạ Mạo, Chàng Út là con của Việt Tây Vương Hùng Ánh (Hậu Hùng Vương), đã dẫn quân cùng với Triệu Vũ Đế đánh Thục (tức là quân Tần) thắng lợi, lập quốc và phục thù nhà. Vợ của Chàng Út là “hoàng hậu họ Triệu”, tức là con gái của Triệu Vũ Đế. Triệu Vũ Đế còn ban sắc phong cho Chàng Út là Út Ngọ Lôi Mao Đại vương, cai quản một vùng đất riêng Quảng Tây. Có thể thấy, đây là sự kiện lập nước Nam Việt của nhà Triệu. Danh xưng triều đại nhà Triệu không lấy theo họ cha (họ Lê của Hùng Ánh) mà lấy theo họ mẹ, do dòng bên mẹ có Triệu Vũ Đế là hoàng đế của cả khu vực.

Câu đối ở đình Hạ Mạo, Phú Thọ:
雄貉紀傳來滅蜀平吳明在史
粵西相遜後龍祥山壯莫成莊
Hùng Lạc kỷ truyền lai, diệt Thục bình Ngô minh tại sử
Việt Tây tương tốn hậu, long tường sơn tráng mạc thành trang.
Nghĩa là:
Hùng Lạc ký truyền nay, diệt Thục bình Ngô rạng ở sử
Việt Tây cùng nhường đó, điềm rồng thế núi bãi thành trang.

Đây là thông tin hết sức mới lạ về nguồn gốc nhà Triệu của nước Nam Việt, cho phép giải mã được những khúc mắc lịch sử hiện tại về thời kỳ Hậu Hùng Vương. Có thể tóm tắt lại diễn biến của thời kỳ này theo những thông tin mới thu nhận từ thần tích Hạ Mạo như sau. Hùng Vương thứ 18 là dòng Tiên Phượng theo mẹ Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, tương ứng với vị vua Chu cuối cùng là Chu Noãn Vương. Tác phẩm thơ Thiên Nam ngữ lục có đoạn về thời gian này như sau:
Kể từ Hùng tổ trị dân
Lên ngôi sánh với thánh nhân Đào Đường
Tới nay Chu mạt Noãn Vương
Ông cha con cháu giữ giàng trị dân…
Ấm bao nhiêu, rét bấy nhiêu
Vườn Chu ải giậu, Tần trèo đãng hoa.

Giặc Thục tấn công và diệt Hùng Vương là nước Tần. Một chư hầu của Hùng Vương mang họ Lê không thần phục Tần đã cát cứ đất Quảng Tây mà xưng vương. Đây là vị Vũ Vương, tức là vị vua đầu triều, của nước Nam Việt. Vũ Vương có người vợ là con gái của Đông Chu Văn Quân, tức là dòng dõi nhà Chu. Khi Triệu Đà khởi nghĩa chống Tần, Vũ Vương cử các con cùng quân đội giúp Triệu Đà định được thiên hạ. Triệu Đà lên ngôi Hoàng đế, xưng là Triệu Vũ Đế. Triệu Vũ Đế phong cho Vũ Vương họ Lê làm vua đất Việt Tây như một chư hầu. Con Út của Vũ Vương họ Lê là người có công trong việc diệt Tần lập quốc, được Triệu Vũ Đế gả con gái cho, là Triệu hậu. Út Ngọ Lôi Mao lên nối ngôi cha ở Quảng Tây tức là Triệu Văn Vương trong lịch sử. Họ Triệu của nước Nam Việt lấy theo họ bên ngoại (theo Triệu Vũ Đế) từ đây.

Bách Việt triệu tổ cổ lục của họ Nguyễn ở Thanh Oai cho thông tin về vua Triệu: Nguyễn Thận là con trai Hùng Dực Công và bà Trần Thị Quý – người làng Chân Định (nay là làng Đại Định, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai – Hà Nội), sau lấy vợ kế là bà Nguyễn Thị Sinh… Chị ruột Nhâm Hiêu lấy viên quan Thái giám họ Triệu tên là Cao, không có con, bèn đem Nguyễn Thận cho Triệu Cao nuôi, đổi tên họ là Triệu Đà.

Về đoạn sử này, Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép là Triệu Vương lúc nhỏ có tên là Nguyễn Thận, cùng với Chử Đồng Tử nương tựa vào nhau, mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên mà sống. Sau đó Nguyễn Thận gặp và đi theo Nhâm Hiêu về Bắc. Chị ruột Nhâm Hiêu lấy quan thái giám Triệu Cao, không có con, nên nhận Nguyễn Thận về nuôi, đổi tên thành Triệu Đà… Triệu Cao là thái giám mà lại lấy vợ để có con? Thông tin này gián tiếp chỉ ra rằng đây không phải nói tới thái giám Triệu Cao của nhà Tần.

Triệu Đà lấy họ theo Triệu Cao và lập nước Nam Việt. Như vậy bản cổ lục này có ý nói Triệu Cao là vị tổ của nhà Triệu Nam Việt, nói cách khác là Triệu Cao là Triệu Vũ Đế. Chữ Cao ở đây nghĩa là vị tổ đầu tiên. Còn Nguyễn Thận trong chuyện này là Triệu Quang Phục, chứ không phải Triệu Đà ở Đồng Sâm.

Làng Quảng Minh, Mỹ Hưng, Thanh Oai thờ một vị Đại vương họ Triệu và thường được các “tín đồ” của Cổ Lôi ngọc phả dẫn rằng đây là nơi thờ Triệu Đà, người Việt chính cống, bởi trong Cổ Lôi ngọc phả kể về một vị Nguyễn Cẩn (hay Thận), là con của Hùng Dực Công (em của Hùng Duệ Vương), sau làm con nuôi của Triệu Cao và đổi sang họ Triệu, rồi làm vua nước Nam Việt… Làng Quảng Minh có vẻ cũng thích thú việc thành hoàng quê mình là vị Hoàng đế khai quốc Triệu Đà nên khá tin vào câu chuyện trên. Nhưng thực ra Cổ Lôi ngọc phả không hề có chữ nào nói về Triệu Đà cả, vì như họ đã ghi đây là ông Nguyễn Cẩn hoặc Nguyễn Thận, chưa từng chép tên Đà. Tức là bản thân vị họ Triệu được nhắc đến trong Cổ Lôi ngọc phả không phải là Triệu Đà.

Ngọc phả Hạ Mạo phối hợp với thần tích của làng Mạo Phổ bên cạnh cho biết vị vua Triệu, cháu của Hùng Duệ Vương cùng Sơn Thánh chống Tần là Út Ngọ Lôi Mao hay Triệu Quang Phục. Đây không phải là Triệu Đà, người xưng Vũ Đế, bởi Triệu Vũ Đế không phải dòng dõi quý tộc Hùng Vương và khởi nghĩa ban đầu là ở đất Chân Định, không phải ở vùng Phong Châu. Triệu Vũ Đế thực ra là cũng là vị Cao Tổ họ Triệu, nên Cổ Lôi ngọc phả chép thành Triệu Cao. Triệu Quang Phục Nguyễn Cẩn là “con nuôi” của Triệu Cao Tổ là chính xác.

Triệu Quang Phục có cha là Triệu Túc, hay Hậu Hùng Vương (em Hùng Duệ Vương) trong ngọc phả Hạ Mạo. Mẹ của ông là Duyên Hòa Thánh mẫu thờ ở Mạo Phổ, là con gái Đông Chu Quân, tức triều vua Hùng đời cuối. Triệu Quang Phục đã cùng với Triệu Đà (được kể thành Sơn Thánh) khởi nghĩa chống Tần thắng lợi. Triệu Đà xưng là Vũ Đế, còn Triệu Quang Phục sau đó xưng vương, tức là Triệu Việt Vương. Triệu Vũ Đế gả con gái cho Triệu Quang Phục nên từ đó nước Nam Việt theo họ Triệu (chi tiết giống Nguyễn Cẩn theo Triệu Cao làm con nuôi và đổi họ).

Như vậy, vị Triệu công chính vị ở Quảng Minh hay Nguyễn Cẩn trong Cổ Lôi ngọc phả là Triệu Quang Phục, người sau này trở thành Nam Việt Vương. Đây là một vị khác, không phải Vũ Đế Triệu Đà ở Đồng Sâm (Thái Bình), người là Cao Tổ đã xưng Đế cả thiên hạ Trung Hoa sau khi diệt Tần thắng Sở. Vị “Tả Hoàng hậu” họ Trần ở Quảng Minh tương ứng với con gái Đông Chu Quân, vợ của Hậu Hùng Vương Triệu Túc.

Câu đối đình Hạ Mạo ở Phú Thọ.

 Sự tích về Triệu Quang Phục đánh du kích ở đầm Dạ Trạch rồi lên ngôi lập nước Nam Việt, xưng Đế sánh ngang với nhà Hán còn được kể trong nhiều tư liệu, mà sẽ được dẫn trong một bài viết khác. Như vậy, có thể tóm tắt về 3 vị vua Hùng mang “họ Triệu” như sau:

  1. Triệu Đà đánh An Dương Vương trong truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy là Tần Vương, vì nhà Tần vốn mang họ Triệu.
  2. Triệu Vũ Đế được kể trong Sử ký Tư Mã Thiên là người lấy vợ ở Thái Bình, khởi nghĩa kháng Tần ở núi Châu Sơn, chiếm Long Biên.
  3. Triệu Việt Vương là Triệu Quang Phục, con rể của Triệu Vũ Đế, tiếp ngôi của Vũ Đế chống giặc ở Dạ Trạch rồi lập nước Nam Việt, xưng Đế (Triệu Văn Đế).
Hoành phi Tự đế kỳ quốc ở đình Đa Vạn, Gia Lâm, Hà Nội.
Tượng Triệu Vũ Đế bị bỏ trong kho chùa ở vùng Châu Sơn thuộc Quế Võ, Bắc Ninh.
Long Hưng điện ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Bạn có biết: Bà chúa kho là vợ vua Hùng Vương thứ 18

 Nếu như Triệu Công Minh, một vị tướng của phe nhà Ân Thương trong Bảng phong thần được tôn làm Thần tài ở Trung Quốc, thì ở nước ta vị thần tài ban phát phúc lộc lại là một nữ tướng, vợ vua Hùng đời cuối của dòng Lạc Thị.

Công chúa Thanh Bình ở Thượng Lát.

Bà chúa kho thời Hùng Vương

Ở thôn Thượng Lát, phường Vân Hà, Bắc Ninh có một ngôi đền thờ Bà chúa kho đặc biệt, không phải là Bà chúa kho ở vào thời Lý mà là Bà chúa kho từ thời Hùng Vương. Lịch sử Bà chúa kho ở Thượng Lát được giới thiệu như sau: Nhà Vua xuất quân từ núi Nghĩa Lĩnh gần ngã ba sông Việt Trì đem toàn bản bộ đến Tiên Lát, có địa hình thuận lợi cho việc chuẩn bị đánh giặc. Thế giặc rất mạnh từ phương Bắc tràn sang, lại có tù trưởng Cao Bằng là Lục Đinh làm nội ứng đánh chiếm nước ta. Các bản bộ đóng trại làm các công việc chuẩn bị còn để lại các địa danh như: bộ Trê, bộ Trạ, bộ Ngạnh, bộ Nứa, bộ Trắng, bộ Hồng. Mỗi bộ trong coi một việc, đó là Lục bộ. Hệ thống trung ương thời phong kiến sơ khai đến thời phong kiến tập quyền nhà Lý còn lập lại tổ chức này. Có một công việc mà nhà Vua không trao cho ai đó là kho vàng bạc và binh sách. Vua trao cho con gái trực tiếp làm thủ kho tại Trại Cung. Tên Trại Cung là nơi hạ trại canh giữ kho cung ứng cho Lục bộ và ba quân nên gọi tắt là “Trại Cung”. Thủ kho là công chúa Thanh Bình, con Vua nước Văn Lang. Công chúa đã tỏ ra có tài cung ứng kịp thời cho Lục bộ, ba quân và cho Thạch Tướng quân đánh giặc đem lại hòa bình cho đất nước….

Cuốn Lịch sử đảng bộ Việt Yên nói về dòng dõi Công chúa Thanh Bình: Tổ tiên vua Hùng là Đế Nghi chuyên chăm lo việc cấy lúa, vua Hùng thứ 7 là Lang Liêu lúc nào cũng nghĩ về hạt thóc. Công chúa là chắt chút của các bậc Tiên vương, là thủ kho, là kế thừa dòng máu của các bậc tiên đế, giản dị, thực tế trung thực và công tâm. Công chúa làm thủ kho thường kỳ nước ta bội thu lúa nước. Thời kỳ biết làm bạc nén và vàng sống. Việc quan trọng bậc nhất là cung ứng kịp thời. Công chúa làm thủ kho đã xứng đáng với niềm tin cậy của ba quân.

Bà chúa kho là một vị công chúa thời Hùng Vương 18, cai quản việc cung ứng cho Lục bộ quân đội chống lại tướng giặc là Lục Đinh từ Cao Bằng cùng với Thạch Linh Thần tướng. Câu đối ở đền Bà chúa kho Thượng Lát:
Hùng thị thập bát thế thánh vương ngự trị
Tiên trang thiên vạn lý Bộ Cung sáng thành.

Thời Hùng Duệ Vương (vua Hùng thứ 18) thường được chép là chống lại quân Thục. Như thế giặc Lục Đinh ở đây tương đương với quân Thục. Có liên hệ: Lục Đinh đọc phản thiết là Đục = Thục.

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả kể, thời Hùng Vương thứ sáu “vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất”. Ở làng Phù Đổng có cậu bé Gióng mới lên ba, theo lời hiệu triệu của vua Hùng đã hóa thành một thiên tướng, dẫn quân chống giặc. “Thần vương cầm roi sắt chỉ huy tiên phong, lệnh khiến các quan hành quân tiếp ứng, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh, miền Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên núi. Quân Ân thua to, tan chạy. Thạch Linh thần tướng bị bắt sống rồi chém đầu”.

Thạch Linh Thần tướng ở Việt Yên là chiến trường giữa Thánh Gióng và giặc Ân, tướng cầm đầu cũng là Thạch Linh Thần tướng. Nói cách khác đời Hùng Vương cuối của thời kỳ Kinh triều Lạc thị (Hùng Duệ Vương) là triều Ân Thương. Còn Thục Vương ở thời này chính là vua Hùng đã cùng Thánh Gióng đánh giặc Ân tại miền Yên Việt.

Nghi môn ngoài của đền Bà chúa kho ở Thượng Lát với dòng chữ Chúa Tiên cung.

Nữ tướng Ân trong hội Phù Đổng

Lễ hội làng Phù Đổng, nay đã là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được tổ chức hàng năm tái hiện lại cuộc chiến thần thánh giữa Phù Đổng Thiên Vương và giặc Ân vào thời điểm hơn 3.000 năm trước. Trong lễ hội, các làng ở Phù Đổng lựa chọn 28 cô gái vị thành niên đóng làm tướng giặc. Các cô gái trẻ trang điểm xinh xắn, ăn mặc lộng lẫy, đầu đội mũ hoa, tay cầm quạt lông hoặc trống ngồi trên kiệu. Mỗi nữ tướng Ân dẫn đầu một đội quân khoảng 15 người phục dịch. 28 đội quân Ân do các các nữ tướng cầm đầu lên tới hơn 400 người.

Cũng ở lễ hội Phù Đổng, phường hát Ải Lao có bài hát mở màn rằng:
Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Quân sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Lễ hội ở Sóc Sơn, nơi Phù Đổng Thiên Vương bay về trời sau khi thắng giặc, có tục lệ chọn một cô gái đồng trinh đóng làm tướng giặc Ân. Trong ngày chính hội sau lễ rước, nghi lễ “chém tướng” Ân được tiến hành như một hình thức đánh dấu mốc son chiến thắng cuối cùng của Phù Đổng Thiên Vương trước quân Ân.

Bài hát Ải Lao và lễ hội Gióng cho biết rõ ràng rằng cầm đầu quân đội nhà Ân là các nữ tướng. Như vậy, tướng Ân là Thạch Linh thần tướng ở chân núi Vũ Ninh cũng là một nữ tướng. Lịch sử cho biết, thời nhà Ân các nữ tướng cầm đầu quân đội ra trận thường cũng là vợ của vua Ân. Nổi tiếng nhất là bà Phụ Hảo, vợ của vua Ân Vũ Đinh, là nữ tướng đã cầm quân chinh phạt các nước như Khương Phương, Ba Phương, Thổ Phương, Đông Di… Mộ Ân hậu Phụ Hảo được phát hiện ở thôn Tiểu Đồn, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, là một trong những ngôi mộ táng bề thế bậc nhất của thời kỳ Ân Thương. Các hiện vật trong mộ cho biết Phụ Hảo còn có “miếu hiệu” là Mẫu Tân, căn cứ vào dòng chữ khắc trên một chiếc đỉnh vuông và các đồ minh khí bồi táng kèm theo.

Nữ tướng Ân trong hội Phù Đổng năm 2022.

Phúc lộc thần Ma Cô Tiên

Trong kho tàng huyền sử Việt có một câu chuyện vô cùng kỳ dị nói tới Diêm Vương và các hồn ma bóng quỷ. Đó là Truyện Giếng Việt, bắt đầu như sau: “Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua Địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.”

Truyện Giếng Việt kể tiếp, đến đời Tần, có quan Ngự sử là Thôi Vĩ đã cho trùng tu lại miếu Ân Vương. Con trai của Thôi Vĩ là Thôi Lượng, sau đó đã đi lạc đường trên núi Trâu Sơn, đến được Ân Vương Thành và gặp mặt Ân Hậu. Ân Hậu tiếp đãi Thôi Vĩ một cách ân cần rồi cho Dương Quan dẫn Thôi Vĩ về. Sau đó Ân Vương đã sai vị Ma Cô Tiên đến trao cho Thôi Lượng thuốc ngải chuyên chữa bệnh u bướu và ban cho một người con gái để kết làm vợ, lại ban cho một viên ngọc Long Tụy, trong cặp ngọc báu thư hùng mà vua Ân mang theo người khi chết ở Trâu Sơn. Ma Cô Tiên được biết là một vị thọ thần và phúc thần trong văn hóa phương Đông, thường hay được thể hiện trong hình dáng một tiên nữ hiến đào trên những chiếc đĩa đựng hoa quả Trung Quốc.

Thần tích làng Phùng Dị, một làng ở vùng núi Châu Sơn cũng kể tương tự chuyện Giếng Việt: Tương truyền rằng ở Kinh Bắc có bộ Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, huyện Vũ Ninh, xã Bằng Dực. Thời Hùng Vương, Ân Vương đem quân đến xâm chiếm nước Văn Lang, đến đất của trang này thấy cảnh đất núi non la liệt, hình như một con ngựa ngọc, nên đặt tên là Châu Sơn. Ân Vương trú binh tại đó.

Khi ấy Hùng Vương nghe tin, liền cầu đảo Long Quân. Long Quân hóa thành Phù Đổng Đại vương cưỡi ngựa sắt mà phá được quân Ân. Ân Vương chết ở dưới chân núi, làm vua Địa phủ. Trang dân ở châu đó lập miếu phụng thờ, thời thường tế lễ. Lâu ngày miếu suy trở thành hoang phế. Đến thời Tần có người bản trang nước ta là Túc Đặng làm quan nhà Tần đến chức Ngự sử Đại phu, thường qua miếu này, thấy cảnh hoang tàn, chạnh lòng thương cảm, cho tu sửa lại đền miếu để giữ việc tế tự. Lệnh cho dân bản trang tuân theo như trước mà thờ. 

Sau này có người Triệu Đà dẫn quân trị nước An Nam, đóng quân ở tại núi, đến nơi miếu mà nghiêm trang thờ tự. Khi đó Ân Vương cảm ơn phục trợ uy linh của ông Túc Đặng bèn sai một đệ nhất mỹ nữ tên là Ma Cô Tiên, giáng sinh vào ngày mùng 6 tháng Giêng năm Mậu Thìn, đến ngày mùng 10 tháng 10 thì thăng hóa, để giúp tương trợ dân nghèo, khai khẩn ruộng vườn, dựng nên một cái chợ. Cái chợ này có tên là Việt, nay là chợ Nghè. Giúp dân an nghiệp, dư giả. Một hôm người bản trang bỗng thấy trên mặt đất mưa to gió lớn nổi lên, sấm nổ chấn động, biết là ngài đã có linh ứng. Người dân cảm công đức đó bèn lập đền phụng thờ, hương khói không ngừng.

Núi Trâu Sơn hay Châu Sơn là núi Vũ Ninh, ngày nay nằm ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Như trên đã biết, người chết trận dưới chân núi không phải vua Ân mà là Ân Hậu. Cũng vì thế mà trong Truyện Giếng Việt, Thôi Vĩ chỉ gặp được Ân Hậu, không gặp Ân Vương. Ân Hậu “hiển linh” và được thờ phụng tại vùng núi Châu Sơn dưới tên Ma Cô Tiên, như tại một loạt các di tích còn ở đây. Rõ nhất là tại ngôi chùa mang tên Ma Cô Tiên, nằm ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong. Chùa còn lưu được nhiều bia ký từ thời Lê, nhưng đặc biệt các chữ Ma có trên bia đều bị đục bỏ. Rải rác ở các thôn quanh núi Trâu như ở Phùng Dị, Hữu Bằng có những ngôi miếu nhỏ thờ Ma Cô Tiên. 

Từ Ma Cô đọc thiết âm là Mô, là cách phát âm khác của từ Mẫu. Chữ Tiên có thể là đọc sai của chữ Tân. Nói cách khác, Ma Cô Tiên có thể được hiểu là Mẫu Tân, vị Ân Hậu mà tên đã được đúc rõ trên đáy chiếc Dương quang, cổ vật thời Ân Thương. Vua Ân cuối cùng là Ân Trụ Vương mang tên Đế Tân. Có thể Mẫu Tân – Ma Cô Tiên chính là vợ của Đế Tân.

Ma Bà ở miếu Giếng tại Phùng Dị.

Mẫu Bạch Kê ở Cổ Loa

Liên quan đến các âm hồn tác quái, truyền thuyết Việt còn có truyện Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thành cứ xây lại đổ. Vua chay giới cầu đảo, thì có Rùa Vàng hiện lên xưng là sứ giả Thanh Giang. Thanh sứ cho biết, đây là bởi vong hồn của Vương tử đời trước báo thù. Vong hồn này ẩn náu trong núi, cùng với yêu quái nguyên là tinh con gà trắng (Bạch Kê Tinh) hóa thành ở quán Ma Lôi bên núi, tụ tập gây hại. An Dương Vương cùng thần Kim Quy đi đánh yêu quái, bắt được Bạch Kê Tinh đem giết đi.

Ở núi Thất Diệu, nay thuộc khu vực xã Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh, có ngôi miếu Bạch Kê, trong đó thờ một vị “Mẫu Nghi Thiên Hạ” gọi là Mẫu Bạch Kê. Cùng trên núi đó có đình làng Yên Phụ và ngôi đền Núi cùng thờ đức Vua Bà Ma Vương. Ở đây còn có một cái ao được gọi là Giếng Cô Tiên, gắn với truyền thuyết Bạch Kê và việc xây thành Cổ Loa.

Từ những di tích tín ngưỡng ở núi Yên Phụ có thể thấy Bạch Kê Tinh ở Cổ Loa chính là Ma Cô Tiên, một phi nhân của Ân Vương hay của “Vương tử đời trước” đã báo oán Thục Vương khi xây thành. Làng Ma Lôi có quỷ tinh gà trắng hiện hình vào người con gái chủ quán cũng chính là nói đến vị Ma Cô Tiên.

Truyền thuyết kể, An Dương Vương sau khi diệt được Bạch Kê Tinh liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sôngXương người chết xưa kia chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng, nên mới hình tượng thành Ma Cô Tiên – Bạch Kê Tinh gây hại. Những địa danh như ngã ba Sọ, chợ Chờ, đò Lo ở vùng Yên Phong cũng gắn nỗi ám ảnh của người dân xưa kia khi phải đi qua vùng núi này.

Truyện Rùa Vàng kể sau khi An Dương Vương cùng thần Kim Quy giết con Gà trắng trong quán Ma Lôi, “Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Trời gần tối, Vua và Rùa Vàng leo lên núi Việt Thường thấy quỷ tinh đã biến thành con chim cú, ngậm lá thư bay lên chiên đàn”.

Việc Thục Vương đào được nhiều nhạc khí cổ ở núi Việt Thường, rồi thấy chim Cú mèo ngậm lá thư bay lên chiên đàn không ngờ lại là một hình ảnh rất thật của thời đại nhà Ân Thương cách nay hơn 3.000 năm. Trên nhiều đồ đồng tế khí của nhà Ân thường dùng hình chim Cú trong tạo hình. Một chiếc bình đồng có hình chim Cú như vậy được thấy ở Việt Nam.

Trong Truyện Rùa vàng, Bạch Kê tinh ẩn hình trong người con gái của quán trọ ở chân núi tại làng Ma Lôi gần thành Cổ Loa. Nói cách khác, Bạch Kê là tinh nữ có tên là Ma Lôi. Chữ Ma thực ra là âm đọc khác của Má – Mụ – Mẫu, chỉ một vị thần nữ.

Núi Thất Diệu là nơi Bạch Kê tinh hóa thành con chim cú bay lên cây chiên đàn ngậm lá thư tâu đến trời trong truyền thuyết thành Cổ Loa. Núi Thất Diệu nay ở xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây có ngôi đền thờ một vị công chúa con vua Hùng. Theo thần tích của đền, “thời Hùng Duệ Vương, công chúa nhiều lần hiển hách âm phù quân tướng nhà Hùng dẹp giặc. Khi quân Thục lấy được nước Lạc Việt xây thành Cổ Loa thì công chúa sai ngàn vạn âm binh phá thành. Sau nhờ thần Kim Quy, vua Thục mới xây xong được thành”.

Đôi câu đối ở nghi môn miếu Bạch Kê, khẳng định Mẫu Bạch Kê là dòng dõi Hồng Lạc:
Hồng Lạc di phong trang thể thế
Tiên Long dư duệ khải hồng cơ.

Trong cấm cung của đền có bức tượng thờ chính bằng gỗ, thể hiện một vị Mẫu, đầu đội mũ mào gà, gọi là Mẫu Bạch Kê. Mẫu Bạch Kê ở đây được kể là dòng dõi Lạc Hồng, miêu duệ Rồng Tiên của vua Hùng. Điều này tương ứng với câu nói của thần Kim Quy: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước”. Thục An Dương Vương đã đánh dẹp triều Hùng rồi xây thành Cổ Loa. Bạch Kê là một vị nữ tướng, dòng dõi của nhà Hùng, hiện lên báo oán ở núi Thất Diệu, làm cho thành cứ xây lại đổ.

Ở Yên Phụ (Yên Phong, Bắc Ninh), Mẫu Bạch Kê còn được thờ tại đình và đền dưới tên Vua Bà Ma Vương. Đối chiếu với truyền thuyết về Ma Cô Tiên trong Truyện Giếng Việt ở núi Châu Sơn thì Mẫu Bạch Kê chính là Ân Hậu, vợ của vua Ân trong cuộc chiến với Thánh Gióng. Ân Hậu cũng là tướng cầm đầu quân đội nhà Ân sang đánh nước Văn Lang, được ngọc phả Hùng Vương gọi là Thạch Linh thần tướng.

Tượng mẫu Bạch Kê ở Yên Phong, Bắc Ninh.

Bà Vu nữ trong Hùng Vương ngọc phả

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả kể khá chi tiết về bà Vu nữ, người được Hùng Vương sủng hạnh, đến mức thay đổi cả lễ với trời:

Diệp Vương noi theo quy chế của tiền vương, cũng có chí chăm việc nuôi dân. Nhưng kế thừa nền thái bình đã lâu, ngòi rãnh dễ tràn, lại chỉ muốn hưởng yến tiệc yên vui, không chịu khó nghĩ suy chính sự. Bấy giờ có bà mo có phép tinh thông sự trời đất quỷ thần. Vua chất vấn thấy quả là bà mo có biết những việc này. Vua gọi là Tiên nhân, cho vào trong cung, thường khi có việc thì hỏi đến. Ngày sau đình thần có lời tâu rằng:

  • Mo sử từ trước tới nay thật mênh mông. Một phụ nữ ngốc nghếch chỉ vì bàn luận vu vơ về sự lý của trời đất mà được vào cung vua thuyết giảng mơ hồ những chuyện hoang đường. Bệ hạ lấy đó làm lạ mà bị mê hoặc. Nay chúng thần xin tấu thỉnh bệ hạ thử nói một cách, làm một cách khác, lập riêng một chiếu đàn xem sao.

Vua thuận theo lời tấu đó, bèn sai dẫn bà mo vào trong cung. Sau đó vua sai lập một đàn tế riêng, dùng các lễ dối, voi trắng không ngà, voi đen ba chân, ngựa đỏ năm chân để cầu đảo với Trời.
Vua bảo đình thần:

  • Trẫm dùng kế ấy để xem bà mo có biết giả trá hay không?

Hoàng Thiên tuy ở cao, nhưng nghe xong không bằng lòng, xem đến các đồ lễ trên đàn thì hoàn toàn không linh ứng. Hoàng Thiên bèn giáng tai ương để cảnh báo vua không có đức.
Vua mới nghiệm biết trời đất báo ứng ngay trước mắt. Trong vòng nửa năm nhật nguyệt tinh thần rơi rụng. Mưa gió không điều hòa. Khí thời không chính. Đức của người làm vua không được thuần. Vua mới cho sứ đưa bà mo đến bảo:

  • Ngươi biết dò xét cơ trời. Nay trong nước có điềm chẳng lành. Ngươi có thể bay lên trời tìm hỏi xem lý do thế nào, về báo cho Trẫm biết.

Bà mo quay về, đến canh ba thấy mờ mịt như nằm mộng, đến thẳng trước cửa khuyết Ngọc Hoàng, quỳ tâu rằng:

  • Tôi vâng mệnh Quốc vương lên tâu thiên đình. Nay trần thế đang có biến. Xin cho biết nguyên do như thế nào?

Ngọc Hoàng phán rằng:

  • Ngươi mau trở về báo cho Vua biết. Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thể lọt. Trần hoàn lóc lóc, có cầu có nguyện tất được theo lòng. Vua nay tự kiêu ngoa, truyền làm lễ vật giả dối. Đó là do trời báo phạt, không chỉ giáng bấy nhiêu tai ương mà thôi. Ba năm sau tất sẽ có nạn giặc lớn!

Nghe phán xong, bà mo tỉnh lại, tâu lại mọi chuyện với vua. Vua nghe nói cả kinh, vẫn cho bà mo ở lại trong cung để xem lời nói đó có nghiệm hay không. Vua lại sai triều quan dựng đàn chay cầu lớn ở giữa kinh đô, các lễ vật như voi ngựa, vàng bạc, ngọc quý, trân châu, mã não đều dùng đồ vật thật, đặt ở giữa cung, bày trí các lễ nghi.
Vua thân đến tế, khấn rằng:

  • Ngu si lầm lỗi, đem vật dối dâng lễ Hoàng Thiên. Sự còn trước mắt, xét xem đã thấy. Cúi xin Thượng Đế chuyển hoạ làm lành, thay tai giáng phúc. Cúi ngước, cậy nhờ ơn đức Hồng Quân!

Khấn xong, bỗng thấy mây gió cuồn cuộn, sắc trời mông lung, khói hương trên đàn bay lên, mây lành toả sắc.
Vua bàng hoàng kinh sợ, khấu đầu lạy tạ rồi lên xe giá về cung điện. Vua lại truyền bà mo lên trời tâu lên Ngọc Hoàng chiếu cố để yên quốc gia, để lành cho chúng dân. Do đó bà mo lại lên trời tâu lên rằng:

  • Vua nước Nam hiện đã biết phải lấy đức trị, để thần dân trong thiên hạ được yên ổn, xin được miễn cho điều tai ương.

Thượng Đế phán rằng:

  • Vua nước Nam đã hối lỗi, sẽ được ban phúc lại. Chỉ còn giặc là Thạch Linh Thần tướng từ phương Bắc đến xâm chiếm đất nước, thì nay có lệnh sai Thiết Xung Thần vương xuống giúp cho Vua được điều lành.

Bà mo tỉnh mộng, tâu ngay lên Vua rằng:

  • Vua nay đã biết hối lỗi, đã được Trời xét phúc. Tuy năm sau có giặc, nhưng trời cho nhân tài sinh ra để giúp nước. Vua không phải lo nghĩ nhiều!

Vua tin lời. Thời Diệp Vương, người giàu vật nhiều nên mới có sàm thần tấu lời, không tin bà mo, đùa lễ giả với trời. Thời này nước Nam không có phong tục kính lễ Trời. Vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất. Quả đúng như lời bà mo đã nói.

Sự tích về bà Vu nữ thời Hùng Vương đánh giặc Ân còn được nhắc tới trong một số thần tích khác, như thần tích làng Thổ Hoàng (Ân Thi, Hưng Yên), chứng thực về sự kiện người vợ vua Hùng này góp phần vào sự tan rã của triều đại Lạc Vương cuối cùng (nhà Ân Thương), thay thế bằng Thục triều Văn Lang.

Bà chúa kho công chúa Thanh Bình quản khố cho cả Lục bộ của quân đội của Thạch Linh thần tướng. Cái tên “Thạch Linh thần tướng” lại gắn với Ma Cô Tiên có một ý nghĩa đặc biệt. Thạch Linh nghĩa là linh khí của đá (ngọc). Ma Cô Tiên trong văn hóa cổ được biết là vị phúc thần mang lại tài phúc cho nhân gian. Ví như Thôi Vĩ đã được Ma Cô Tiên cho viên ngọc Long Tụy của Hoàng Đế mà trở nên giàu có. Còn ở núi Thất Diệu, sau khi An Dương Vương diệt Bạch Kê tinh đã cho đào núi, lấy được nhạc khí và xương cốt cổ. Ân hậu Ma Cô Tiên chính là vị cổ thần chưởng quản cổ khí, tài lộc từ thời Hùng Vương.

Bia chùa Ma Cô Tiên ở Châu Cầu, Bắc Ninh.