Showing posts with label Bàn về tín ngưỡng. Show all posts
Showing posts with label Bàn về tín ngưỡng. Show all posts

Wednesday, February 18, 2026

Con ngựa trong không gian văn hóa tín ngưỡng Việt

 Bài đăng trên Tạp chí Năng lượng mới, số Xuân 2026

Mặc dù ngựa không phải là loài động vật bản địa trong tự nhiên ở Việt Nam nhưng trong văn hóa tín ngưỡng người Việt con ngựa có một vai trò đặc biệt, rất hay gặp và đa dạng về hình thức. Hình tượng ngựa có thể là thần Bạch Mã của kinh thành Thăng Long, thần thú Long mã, ngựa chiến của Thánh Gióng đánh giặc Ân, ngựa trong các di tích đình, đền, chùa đến ngựa trên các bức chạm gỗ, đá sinh động, ngựa trong tranh thờ của người Dao. Ngựa còn là biểu tượng của quẻ Khôn trong Kinh Dịch về sự tòng thuận, khôn ngoan đem đến sự bền vững, lâu dài cho đời sống con người.

Con giáp Ngọ – Ngựa

Trong 12 con giáp thì Ngọ là giờ giữa trưa, là thời điểm mặt trời lên cao nhất trong ngày. Ngọ còn có hàm ý là chỉ phương Nam về không gian và là tháng Năm trong Âm lịch. Ngọ gần âm với Ngũ, là con số 5 ở trung tâm của Hà thư và Lạc đồ. Ngọ cận âm với “ngự”, từ dùng cho vị trí của vua. Do đó, trong dân gian Ngọ cũng có nghĩa là thủ lĩnh, là Vua. Ví dụ như ở làng Hạ Mạo (Lâm Thao, Phú Thọ) thờ vị thần tên là Út Ngọ Lôi Mao với sự tích là chàng Út trong số 5 người anh em họ Lê đã lên ngôi Hậu Hùng Vương thời kỳ nước Nam Việt.

Thần Bạch Mã Long Đỗ

Đền Bạch Mã là ngôi đền trấn Đông trong Tứ trấn của thành Thăng Long. Đền thờ thần Chính Khí Long Đỗ và Quảng Lợi Bạch Mã Đại vương. Thần Long Đỗ là thành hoàng của thành Thăng Long, hiển linh dưới thời Cao Biền. Còn thần Bạch Mã là khi Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, thần đã hiện hình một con ngựa trắng đi quanh khu vực xây thành. Nhà vua đã xây theo vết chân ngựa đó, thành xây đến đâu chắc chắn đến đó. Long Đỗ hay Bạch Mã đều là cùng một vị thần, gọi theo sự tích hiển linh ở các thời khác nhau.

Thần Long Đỗ Bạch Mã nguyên gốc là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế trong Đạo giáo, hay Động Đình Đế Quân, là vị thần cai quản phương Đông và Thủy phủ. Động Đình Đế Quân là cha của Động Đình Long Nữ, là ông ngoại của Lạc Long Quân trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng của người Việt.

Rải rác ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa thần được thờ là thành hoàng các làng dưới tên Quảng Lợi Bạch Mã hay Bạch Mã Lôi Công. Sự tích thần Bạch Mã ở đây được thể hiện dưới dạng một vị Thiên thần, khi xuất hiện thì trời nổi mưa gió, làm sấm sét, giúp nước an dân, dẹp giặc ngoại xâm.

Ở miền Nam từ Đà Nẵng trở vào có thần Bạch Mã Thái Giám, được thờ như một vị thượng đẳng thần cai quản các vùng đất. Nhiều nơi có sắc phong cổ cho vị thần này. Thái Giám nghĩa là người đứng đầu cai quản, giám sát mọi sự, thể hiện cấp bậc rất cao của vị thần này. Xét về sự tương đồng thì thần Bạch Mã Thái Giám cũng là thần Long Đỗ hay Động Đình Đế Quân.

Linh thú Long mã 

Vào thời thượng cổ vua Phục Hy thấy một con Long mã, đầu rồng, mình ngựa, xuất hiện trên sông. Trên lưng Long mã chở một đồ hình gồm có 10 đường nét, 50 chấm, gọi là Hà đồ. Nhà vua quan sát các chấm nầy, kết hợp với các hiện tượng thiên nhiên trong trời đất mà nghĩ ra cách tượng trưng Âm Dương, vẽ ra Bát Quái đồ. Hà nghĩa là Trời. Hà đồ là cuốn Sách trời, tượng trưng cho nền minh triết (Dịch học) sơ khởi của phương Đông. 

Hình tượng Long mã Hà đồ thường được đắp, vẽ trên các bức bình phong ở các đình, đền, nhất là từ vùng miền Trung trở vào phía Nam. Các phủ, điện ở cố đô Huế đặc biệt hay sử dụng hình Long mã Hà đồ đắp bằng cách ghép các mảnh gốm sứ màu. Long mã Hà đồ là biểu tượng cho khởi đầu của không gian tâm linh nên được đặt ở mặt trước của các tấm bình phong trên đường thần đạo của các di tích tín ngưỡng.

Ở một số di tích cổ, như ở đền Thượng Sóc Sơn (Hà Nội), có tượng Long mã được đắp ở trước đền, dạng như linh vật chầu trước di tích. Có nơi Long mã còn được làm bằng gỗ, có bánh xe để rước, thay cho ngựa, nhất là khi đối tượng thờ là những vị Thiên thần. Việc này xuất phát từ quan niệm Long mã là thú cưỡi của các vị thần tiên trên trời.

Về hình tượng ngựa thần còn có cặp Hỏa mã, Ngọc lân là thần thú của 2 vị Nhật Quang Thiên Tử và Nguyệt Quang Thiên Tử trong sự tích về Đế Thích như ở đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên). Đây là hình ảnh của Mặt trời và Mặt trăng nhưng thể hiện từ góc nhìn của Ấn Độ giáo.

Ngựa chiến

Nói tới ngựa chiến không ai không nhớ ngay đến con Ngựa sắt phun lửa đã cùng Phù Đổng Thiên Vương diệt giặc Ân. Tương truyền khắp các vùng từ Sóc Sơn đến núi Châu Sơn rải rác có các dấu chân ngựa Gióng in trên các phiến đá lớn hay sụt lún thành ao hồ. Ở chân núi Sóc Sơn có đền Hạ Mã (xã Phù Linh), là nơi Thánh Gióng từng dừng ngựa, để lại yên cương và ngọc duẩn trước khi về trời. Nơi đây còn có cột đá buộc ngựa của Thánh. Phù Linh là làng tiến lễ Ngựa mã trong lễ hội đền Sóc Sơn vào ngày mùng 6 tháng Giêng hàng năm, là ngày Thánh Gióng bay về trời.

Một lễ hội khác cũng có ngựa mã là lễ hội Y Sơn (Hiệp Hòa, Thái Nguyên) thờ đức thánh Hùng Linh Công cũng đánh giặc Ân. Trong lễ hội, 5 giáp ở Y Sơn làm 5 cỗ voi và 10 cỗ ngựa hồng ngựa bạch bằng tre ngâm, dán giấy màu sặc sỡ, tập hợp thành đoàn quân voi, ngựa có quản, tướng (do nam và nữ thiếu niên đóng) ngồi ở trên. Đội tượng binh mã binh này là quân đội chính của đức Hùng Linh Công ra trận diệt giặc.

Hình tượng ngựa do các chiến tướng cưỡi xung trận hay gặp trong các bức tranh đắp nề ở các ngôi đền hay chạm gỗ ở đình làng. Một hình tượng ngựa chiến nữa gặp trong lễ hội dân gian đó là hình quân Mã trong trò đánh cờ người, được chơi diễn khá phổ biến ở nhiều lễ hội miền Bắc. Đánh cờ tướng vốn lấy theo cốt truyện Hán – Sở tranh hùng, được thể hiện trong các lễ hội nhằm ca ngợi, tái hiện lại chiến công của các vị thần thành hoàng là các vị tướng võ, vị vua dựng nước được thờ ở đây.

Ngựa rước

Ngựa là loài vật nhanh nhẹn, mạnh mẽ, bền bỉ, dẻo dai, dùng làm vật cưỡi rất quý thời xưa, chỉ những người có điều kiện và có chức tước mới cưỡi ngựa. Trong không gian thờ cúng, đối với các vị quan tướng thường có cặp Ngựa hồng Ngựa bạch làm bằng gỗ có bánh xe, trang trí đầy đủ yên cương, thêu hình chim phượng, rồng mây, đặt trong nội điện để thờ. Uy nghiêm hơn nữa trong việc thờ các vị thánh vương như Sĩ Nhiếp hay Lão Tử thì còn có tượng quan hầu dắt ngựa đi kèm. Vào ngày lễ hội, cặp ngựa hồng bạch này được kéo ra ngoài sân, bày phía trước các kiệu thờ và nếu hội có đám rước thì ngựa cũng được rước đi đầu. Ngựa trong trường hợp này thể hiện sự tôn vinh chính khí, uy linh của vị thần được thờ.

Đôi khi ngoài ngựa hồng và ngựa bạch còn gặp cả Ngựa đen, như trường hợp ở đình làng Hoài Thượng ở Thuận Thành (Bắc Ninh). Điều này liên quan đến vị thần được thờ là Bắc phương Hắc đế, vị thần phương Bắc, lấy màu đen làm biểu tượng.

Ngựa chầu

Ở nghi môn các đền thờ, miếu, đôi khi cả ở đình làng, thường có đắp nề nổi hay vẽ hình ngựa chầu. Thường gặp nhất là một bên Voi, một bên Ngựa, hoặc là một bên ngựa bạch, một bên ngựa hồng. Có thể có người quản mã kèm theo. Trong nội điện các di tích thờ trước gian hậu cung hai bên cũng có thể đắp hoặc vẽ ngựa chầu tương tự.

Những di tích lớn có thể dùng ngựa đá để chầu bên ngoài, đứng riêng rẽ hay trong lầu gác, hay có tượng quản mã dắt ngựa đi cùng. Đặc biệt hay thấy có ngựa đá đứng hoặc nằm ở các lăng tẩm như lăng, đền thờ các vị vua Trần, gắn với câu thơ bất hủ của Thượng hoàng Trần Nhân Tông: Xã tắc hai phen bon ngựa đá. Ngựa đá, Voi đá, Quan hầu cũng là những tượng được đặt thành hàng đứng chầu trước lăng các vị vua nhà Nguyễn ở Huế. Ngựa chầu thể hiện sự trang nghiêm, uy quyền của người được thờ trong di tích.

Ở miền Nam ngựa chầu ở các đình đền lại mang một sắc thái khác. Hay gặp ở đây là tượng ngựa ô, ngựa bạch, được đặt phía trước di tích, theo hình dạng đang đi, vươn cổ, bước chân, hơn là đứng trang nghiêm như ngựa chầu ở miền Bắc. Hình tượng ngựa Nam bộ mang tính chất công việc làng xã trong các lễ cầu phúc, kỳ yên, cầu mùa, hơn là ý nghĩa tôn vinh sự uy nghi của các vị thần được thờ như ở miền Bắc.

Ngựa của trong Đạo giáo Tam phủ

Trên các bức tranh thờ của người Dao theo lối Đạo giáo thường thể hiện các vị quan cưỡi ngựa. Điển hình là bức Thái úy trong bộ 3 bức tranh Hành sư (Tổng đàn). Tranh này thể hiện một vị thần với khuôn mặt hiền từ, cầm kiếm cưỡi ngựa với các vị quan hầu cũng cưỡi ngựa. Tranh thờ khác là tranh Tam Nguyên Quan vẽ 3 vị Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan đều ở trạng thái cưỡi ngựa. Còn trong tranh Tứ trực Công tào thì vị công tào của Dương gian là vị cưỡi ngựa. Con ngựa như vậy là biểu hiện cho Dương gian, là một trong Tứ phủ theo quan niệm của người Dao.

Trên những bức tranh độ linh của các tộc người theo Đạo giáo như người Dao, người Cao Lan, người Tày, có vẽ các vị quan cưỡi ngựa trên dọc đường của linh hồn đi lên trời. Hình ảnh ngựa kéo xe còn gặp trên loại gương đồng “thần nhân xa mã đồ tượng” của thời Hán, mà trong đó xe ngựa như một phương tiện cho linh hồn đi trên con đường về với thế giới thần tiên (về Trời – Thiên phủ).

Nếu ở Dương gian có ngựa cưỡi của các vị quan, trên đường lên Trời (Thiên phủ) có xe ngựa, thì ở dưới Địa phủ có quỷ Mã diện (mặt ngựa), cùng với quỷ Ngưu đầu (đầu trâu), làm sai nha cho Diêm vương. Ngưu đầu Mã diện thường gặp ở trong tranh thờ hay trên mũ thầy cúng người Dao. Còn ở miền xuôi, như vùng Sơn Tây (Hà Nội) hay gặp những di tích thờ Tam phủ cổ có đặt tượng Ngưu đầu Mã diện, là hình thức tín ngưỡng khá tương đồng với Đạo giáo của người Dao.

Ngựa trong chùa

Trong chùa thờ Phật đôi khi có đặt tượng Mã đầu Quan Âm, thể hiện Quan Âm Bồ Tát ngồi trên đỉnh núi, gương mặt hiền hậu và ôm một con ngựa trắng, với ý nghĩa cứu độ, khuyến khích sự chuyên cần, bền bỉ, kiên trì trong tu và hành pháp.

Việc dùng hình ảnh ngựa trong các cảnh trang trí hay thấy ở chùa hơn là ở đình đền. Điển hình là cảnh đàn ngựa vui đùa hoặc ngựa đang vờn chơi với hươu nai rất sinh động, được chạm nổi trên lan can đá, tháp đá của chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh). 

Hình ngựa phi hay ngựa rước có lọng che còn thấy trong các bức tranh đồ thế, hay được khắc lên gỗ thành mộc bản để in làm giấy mã, dùng trong các nghi lễ cúng ở chùa.

Ngựa trong Kinh DịchCặp quẻ Càn – Khôn là 2 quẻ chính, bao trùm cả 64 quẻ của Kinh Dịch. Quẻ Càn có tượng là Trời, là nền Minh triết. Quẻ Khôn là Đất, là nền Khoa học. Lời quái của quẻ Càn là “Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh”. Còn lời quái của quẻ Khôn là “Nguyên, Hanh, Lợi, tẫn mã chi Trinh”, chỉ khác nhau ở chữ “tẫn mã”. Tẫn mã là ngựa cái, do quẻ Khôn có tượng là đàn bà. Người xưa dùng 2 con vật làm biểu tượng trong Kinh Dịch. Rồng bay trên trời dùng trong quẻ Càn, Ngựa đi dưới đất dùng trong quẻ Khôn. Ngựa đi là theo người điều khiển, ở đây ý muốn nói đến sự thuận tòng. “Tẫn mã chi Trinh” nghĩa là nền Khoa học phải theo sự định hướng hay được dẫn dắt bởi nền Minh triết thì sự nghiệp khoa học mới bền lâu. Hay nói đơn giản hơn, hành động lý trí của con người (Khôn) phải tuân theo sự chỉ dẫn của tư tưởng đúng đắn (Càn) thì mới được lâu dài.

Wednesday, December 11, 2024

Các vị thủy thần ở Hà Tĩnh

Hà Tĩnh là vùng dải núi Trường Sơn chạy ven biển từ cửa Hội đến Đèo Ngang. Vùng hữu ngạn sông Lam lẽ ra phải có nhiều nơi thờ Thủy phủ như ở phía tả ngạn thuộc Nghệ An nhưng nay lại không thấy có di tích nào thờ Thủy thần. Thay vào đó là lưu vực sông Nghèn đổ ra biển ở núi Nam Giới lại là nơi phổ biến tín ngưỡng thờ Tam Lang Long vương, là 3 vị thần rắn hiển linh thời vua Lê. Dày đặc nhất của việc thờ Tam Lang Long Vương là ở huyện Thạch Hà, với những di tích thờ riêng rẽ từng vị Ông Cả, Ông Hai, Ông Ba Long vương, hay thờ tập trung ở các đền lớn tại Thạch Trị như Miếu Ao, Miếu Ngu, đền Sắc Thạch Lạc.

Tín ngưỡng Tam Lang Long vương ở Hà Tĩnh còn phân bố ở một số nơi trên miền núi như ở đền Thái Yên của huyện Đức Thọ, đền Voi ngựa của huyện Can Lộc. Có chỗ như ở đền Ích Hậu huyện Lộc Hà sự tích có chút thay đổi, thay là 3 chàng Rắn là 3 chàng Vịt nở ra từ trứng. Tín ngưỡng Tam Lang Long vương còn thấy ở tận phía Nam của tỉnh vùng La Sơn (Cẩm Xuyên).

Vị thủy thần quan trọng thứ hai ở Hà Tĩnh là thần Cao Các với tên gọi khác nhau ở một số nơi như Cao Các Trà Sơn, Cao Các Mạc Sơn, Cao Sơn Cao Các. Thần Cao Các được thờ cả ở vùng ven biển (Thạch Hà) cũng như vùng núi (Can Lộc). Lối thờ tương tự như bên Nghệ An, nhưng sự tích thường không rõ ràng.

Trong số các thần Thủy phủ thì ở Thạch Hà còn thấy rải rác thờ Hà Bá Thủy quan. Ở vạn chài Lạc Thủy cũng của huyện Thạch Hà có thờ thêm Long Vương, với tên gọi cũng như sự tích không rõ ràng.

Trong số các Hải thần ở Hà Tĩnh duy nhất gặp làng Cương Gián của huyện Nghi Xuân thờ Đông Hải Đại vương Nguyễn Phục, tương tự như bên Nghệ An. Còn lại những nơi khác thường là thờ Đại Càn Nam Hải hoặc Sát Hải Hoàng Tá Thốn.

Tín ngưỡng thờ Linh Lang và Thủy Tinh không thấy có ở Hà Tĩnh. Ở Hà Tĩnh không có di tích thờ Chử Đồng Tử như lại có ngọn núi Nam Giới tại Thạch Hà tương truyền là đất Quỳnh Lâm, nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên học đạo. Trên đỉnh núi có bàn cờ tiên như chứng tích cho sự kiện này.


Friday, December 6, 2024

Các vị thủy thần xứ Thanh

Dòng sông chính chảy qua Thanh Hóa là sông Mã với 2 nhánh, một chính nhánh chảy từ Quan Hóa, Bá Thước qua Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc. Một nhánh ngắn hơn là sông Chu bắt nguồn từ hồ Cửa Đạt ở Thường Xuân, chảy tới Ngã ba Đầu gần núi Đọ, Hoằng Hóa thì hợp với nhánh chính của sông Mã, rồi đổ ra biển tại Sầm Sơn. Lưu vực sông Mã là nơi tập trung chính các di tích tín ngưỡng thờ Thủy thần của xứ Thanh.

Bên cạnh đó, còn 2 khu vực thờ thủy thần nữa ở xứ Thanh với quy mô nhỏ hơn. Một là vùng núi đá vôi ven biển ở Nga Sơn, Bỉm Sơn. Hai là vùng phía Nam sông Yến thuộc Tĩnh Gia (nay là Nghi Sơn).

Chính dòng thủy thần Linh Lang Đại vương gặp rải rác ở 8 nơi dọc theo sông Mã và vùng Nga Sơn. Đáng kể là ở đình Bồng Thôn và đình Bồng Hạ xã Vĩnh Minh, Vĩnh Lộc có sự tích là hoàng tử Linh Lang thời Lý. Ở làng Vĩnh Ngọc, xã Đông Lĩnh, TP. Thanh Hóa có thần tích Linh Lang thời Lý được chép chung với Trung Thành Đại vương trong bộ nhất bào ngũ tử thời Hùng Vương.

Nhóm “sơn thủy thần” Quý Minh ở Thanh Hóa cũng chỉ gặp ở vùng sông Mã và Nga Sơn với số lượng khá nhiều. Đặc biệt ở vùng này bắt đầu xuất hiện tín ngưỡng thờ thần Cao Các, dường như nối tiếp cách thờ Cao Các Quý Minh từ vùng cửa Thần Phù (Ninh Bình). Thống kê trong Thanh Hóa chư thần lục có 10 nơi thờ Quý Minh và có tới hơn 40 nơi thờ thần Cao Các ở xứ Thanh.

Tín ngưỡng thờ các vị Thủy thần cùng bọc ở Thanh Hóa không nhiều, có 8 di tích dọc theo hệ thống sông Mã và sông Chu và 2 di tích ở vùng Tĩnh Gia. Trong số đó ngoài thờ Bạch Hạc Trung Thành Đại vương, còn thường là thờ hai anh em thần rắn ông Dài ông Cụt, nhất là ở vùng thượng nguồn sông Mã, trong khu vực người Mường. Cá biệt ở đình Đệ Nhị, xã Thiệu Tiến, Thiệu Hóa có thờ Câu Mang Đại vương.

Khác với các vị thủy thần cùng bọc, ở ven biển xứ Thanh rất phổ biến thờ các Hải thần. Tuy nhiên ở đây thường gắn sự tích vào các nhân thần thời sau như có tới hơn 70 nơi thờ Đông Hải Nguyễn Phục ở cả 3 vùng của xứ Thanh. Có khoảng 9 nơi thờ Đông Hải Đoàn Thượng ở 2 khu ven biển là Nga Sơn và Tĩnh Gia. Rải rác ở vùng núi phía Bắc của tỉnh có thờ Nam Hải Long vương, Đông Hải Long vương.

Trong bộ Thủy phủ công đồng tập trung nhất vẫn là ở vùng sông Chu – sông Mã. Phổ biến ở đây là các “Long thần” như Long Cung Thủy thần, Thủy quan Long vương, Long Uyên tôn thần, Long Uyên Đĩnh tú, Đậu uyên Long vương (chữ Uyên chỉ nơi nước sâu, thường là thủy thần các vực), Tỉnh tuyền Long vương (thần giếng).

Nhiều làng chài dọc sông Mã của thành phố Thanh Hóa, gọi là Thủy Cơ, có tính ngưỡng thờ Thủy phủ Công đồng gồm Hà Bá, Thủy quan Long vương, Thủy quan tôn thần, Thủy tộc tôn thần. Ở khu vực Hoằng Hóa có nơi thờ thần thuồng luồng là Ngu giang tôn thần. Ở Tiên Bạn, Thọ Xuân lại có thờ thần Quảng Tế Long Đỗ hiển linh giúp Lê Lợi. Khu vực sông Yến, Tĩnh Gia có vài nơi thờ Hà Bá và Thủy quan.

Các vị Thủy phủ Hải thần ở Thanh Hóa nổi bật là Bát Hải Long vương ở vùng núi phía Bắc, mà đền Bát Hải ở TX. Bỉm Sơn là được biết đến nhiều nhất. Trong sâu đất liền ở Xuân Phổ, Thọ Xuân lại có tục thờ Đại Hải Long vương, gắn với trò Xuân Phả nổi tiếng ở đây. Ở Hoằng Hóa có thờ thần Hải Giác Long vương, với sự tích về một tấm gỗ thiêng trên biển. Không thấy ở phía Nam của tỉnh có thờ Thủy phủ Hải thần.

Trong dòng Lạc thị ở xứ Thanh có vài nơi thờ những người con của Lạc Long Quân đi khai phá miền biển. Được biết nhiều là ở Hổ Bái tại xã Yên Bái, Yên Định, là người con thứ 11 theo cha xuống biển. Ở An Hóa, Hậu Lộc có thờ Giải Uyên là con vua Mạc Long (Lạc Long). Ở Ngọc Hộ, Hoằng Hóa thờ Minh Quang Linh Ứng con vua Lạc Long.

Thủy Tinh Thánh mẫu được thấy thờ ở phía Bắc của tỉnh, như đền Bông thờ Mẫu Thoải trong cụm di tích Hàn Sơn tại Hà Trung. Thủy Tinh Tiên Dung Phu nhân ở Bãi Nại, Nga Sơn. Còn lại rải rác có thờ Thủy Tinh Công chúa nhưng lại là sự tích vào thời Trần hay những thời sau.

Phân bố các di tích thờ Linh Lang và Quý Minh ở Thanh Hóa
Phân bố các nơi thờ Thủy thần cùng bọc và Tứ Hải Long hầu ở Thanh Hóa.
Phân bố các di tích thờ Thủy phủ công đồng, Thủy Tinh thánh mẫu và dòng Lạc Thị ở Thanh Hóa.




Monday, September 30, 2024

Tứ Hải Thái Bình, tín ngưỡng thờ Hải thần ở Thái Bình

 

Thái Bình là tỉnh có cửa chính của sông Hồng đổ ra biển nên trong tín ngưỡng thờ thủy thần ở đây đặc biệt xuất hiện một hệ thống các vị thần biển mà nơi khác không có. Tuy nhiên, điều khác lạ nữa là các thần biển ở Thái Bình không phải chỉ có 1 vị, mà lại có đủ cả bốn phương tứ hải. Bản chất các vị Hải thần này ra sao, sẽ được làm sáng tỏ qua phân tích hệ thống các di tích thờ thủy thần ở Thái Bình.

Các vị hải thần được nói đến ở Thái Bình là những vị thủy thần, tức là những vị thần có nguồn gốc từ thời Hùng Vương, liên quan đến việc trị thủy, có thể là hiển linh qua các thời. Tên gọi “thủy thượng linh thần” hay “thủy tinh” dùng trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả để chỉ những người con của Lạc Long Quân đã được chia trị các vùng đầu sông góc biển. Phân biệt với các vị sơn thần là dòng theo mẹ Âu Cơ trị nhậm các nơi núi rừng, đồi gò.

Nếu từ “Sơn” được dùng chỉ các vị tổ thời Hùng Vương ở miền rừng núi thì từ “Hải” là để chỉ các vị thủ lĩnh cai quản vùng sông nước. Hải không chỉ có nghĩa là biển, mà là vùng ven sông nước nói chung. Do đó không chỉ có Đông Hải, Nam Hải, mà còn có Bắc Hải, Tây Hải, cho dù về mặt địa lý ở phía Bắc và Tây nước ta không hề có biển.

Phải chú ý là tên gọi các hải thần rất dễ lẫn với các nhân thần, tức là những nhân vật lịch sử ở thời kỳ gần hơn, đã từng cai quản hay có công nghiệp ở vùng ven biển Đông. Phổ biến nhất là Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng, một vị tướng nổi lên cuối thời Lý chống lại nhà Trần ở miền duyên hải. Cũng là tên Đông Hải Đại vương còn có vị tướng thời Lê là Nguyễn Phục, từng phụ trách việc quân lương, đã trung nghĩa tử tiết chịu tội để bảo vệ cho đoàn quân khỏi mưa bão trên biển Đông.

Nam Hải còn vốn là tên để chỉ khu vực miền Bắc nước ta thời kỳ trước Công nguyên, nên những vị quân chủ của nước ta khi đó khi hóa được tôn thần là Nam Hải Đại vương. Đó là vua An Dương Vương, người khi cùng đường chạy ra biển theo thần Kim Quy mà hóa. Đó cũng có thể là Triệu Vũ Đế, người đã khởi nghĩa chống Tần từ đất Thái Bình, nên được tôn là Nam Hải Đại vương hay Nam Hải Tạo lực.

Còn có Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ Vị Hồng Nương, tuy là thủy thần nhưng theo một mạch tín ngưỡng khác với thủy thần họ Hùng. Tên gọi Đại Càn Quốc gia Nam Hải cho thấy Nam Hải ở đây là chỉ “quốc gia”, chứ không phải là chỉ miền biển.

Cũng là thời Hùng Vương với tên gọi là Nam Hải, nhưng lại không phải là thủy thần. Đó là Quan Âm Diệu Thiện, con gái vua Hùng đã đi tu đắc đạo ở vùng đất Nam Hải. Quan Âm Nam Hải là vị sơn thần điển hình bởi đây chính là bà chúa Ba, tức bà chúa Thượng Ngàn.

Các di tích thờ Hải thần ở Thái Bình có thể được chia thành ba tuyến như sau.

Cụm di tích ven sông Luộc

Sông Luộc là dòng sông không đổ trực tiếp ra biển mà có dòng chảy ngang nối giữa sông Hồng và sông Thái Bình. Sông Luộc chảy qua địa phận hai huyện Hưng Hà và Quỳnh Phụ, với số các di tích thờ Hải thần tương ứng là 6 di tích ở Hưng Hà và 7 di tích ở Quỳnh Phụ. Có thể thấy đây là còn số khá khiêm tốn khi so với những cụm di tích ở phía Nam Thái Bình.

Trong số các Hải thần vùng sông Luộc chiếm lượng di tích nhiều nhất là thần Đông Hải. Sự tích vị thần này thường là không được biết rõ. Duy nhất ở xã Phú Sơn, huyện Hưng Hà có sự tích vị Đông Hải Đà La Đại vương hiển linh vào thời Lý đánh giặc Hồ Tôn Tinh.

Một số di tích khác ở vùng sông Luộc thờ Nam Hải, hiếm hơn có thần Tây Hải, nhưng cũng tương tự, đều không rõ sự tích. Thần Bắc Hải không thấy xuất hiện trong các di tích tín ngưỡng ở khu vực này.

Cụm di tích ven sông Diêm Hộ

Diêm Hộ là một sông nhỏ, bắt nguồn từ phía Nam huyện Quỳnh Phụ nhưng lưu vực của nó chủ yếu nằm ở huyện Đông Hưng và Thái Thụy. Thế nhưng điều lạ là lưu vực sông nhỏ Diêm Hộ lại là nơi có số lượng các vị Hải thần nhiều nhất. Huyện Đông Hưng có khoảng 14 di tích. Huyện Thái Thụy có khoảng 16 di tích. Số liệu này cho thấy mức độ dày đặc các di tích thờ Hải thần ở ven sông Diêm Hộ. Đơn cử như ở 1 xã Thái Sơn, huyện Thái Thụy, là tổng Trừng Hoài xưa, có tới 8 di tích thờ Hải thần. Trong đó 1 làng xưa chia thành vài thôn, mỗi thôn thờ 1 hoặc 2 vị ngay trong cùng 1 làng, với đầy đủ bộ 4 vị Đông Hải, Nam Hải, Tây Hải và Bắc Hải.

Với số lượng và mức độ phong phú đủ Tứ Hải thần như vậy thì có thể nhận định rằng vùng sông Diêm Hộ là nguồn gốc phát sinh của tín ngưỡng thờ Hải thần ở Thái Bình. Cũng ở khu vực này, các thần đã được thờ với sự tích tương đối rõ ràng hơn, mà cụ thể có thể thấy qua một số di tích.

Nam Hải Đại vương ở đình đền An Cố, Thái Thụy là vị thần có sự tích khá đầy đủ, cho biết ngài mang họ Phạm, là một vị tướng thời Hùng Duệ Vương. Khi ngài cai quản đã dẹp yên nạn hồng thủy, trừ thiên tai dịch bệnh cho nhân dân trong vùng. Ngài dạy bảo thần dân làm ăn thịnh vượng. Khi đất nước có giặc Thục xâm phậm, ngài cùng với Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn, Quý Minh đánh tan quân Thục. Có thể thấy sự tích về Nam Hải Đại vương ở An Cố không khác gì sự tích về Trung Thành Phổ Tế Đại vương của vùng sông Hồng. Vị thủy thần họ Đào này từng nắm chức vụ là Thổ Lệnh Thống quốc Lạc Long hầu Nam long Trưởng lệnh, tức là cùng hướng Nam trong bộ nhất bào ngũ tử.

Sự tích về Tứ Hải thần rất bất ngờ được biết qua di tích đình Lưu ở xã Đông Phương, huyện Đông Hưng. Theo thần tích của làng cho biết: dưới thời An Dương Vương, vua Thục mắc mưu quân Triệu Đà nên để đất nước rơi và tay giặc. Khi đó Vũ Cao Lỗ tướng công và một số trung thần con vua đã cùng ông Đồng phó tướng luyện binh. Được tin vua Thục thua trận rẽ nước xuống Trấn Thuỷ Phủ, hai ông chỉ còn biết kêu trời lạy đất cho quân sỹ trở về. Hai ông cho lui tới địa đầu vùng an lạc và cho quân nghỉ ở thôn An Vĩnh, nằm nghỉ trong miếu hai ông mộng thấy Thục An Dương Vương than vãn và phán rằng: Thượng đế đã phán xét chuẩn cho được trở lại Long Cung và truyền phong làm Nam Hải trấn trị hoành hợp các cửa sông để xoá đi cho tội lỗi đã qua vì trước đây hiếu thảo phụng sự Động Đình Đại đã có công. Ngoài ra hiện thân đã nhận việc là phối hợp với Đông Tây Bắc Hải các vị Long Vương đi cứu giúp dân cấy trồng được sinh lợi. Nói xong hai ông không thấy bóng dáng Thục An Dương Vương mà thấy một vị quan ở cổ miếu An Lạc xuất hiện. Tay trung thần cầm đao chiến của Thượng đế trao cho 2 ông, 2 ông đọc tờ chiếu, đọc xong trông lên cũng không thấy vị thần quan đâu. Hai ông liền ra sân lạy tạ Hoàng Thiên và quyết tâm thực hiện lời chiếu. Tiếp từ đó về sau các cửa sông, bờ biển nếu có gió bão, thuỷ tai dẫn đến đê điều bị phá huỷ, các vị thần đã luôn giúp dân trấn trị và hoành hợp thu được kết quả khả quan rất lớn. Do vậy các nơi đã lập đền miếu thờ tự – các vua trần gian hạ phối đều nam cấp duệ, hiện theo cửa sông thuộc phương nào là phong sắc với hàm vị: Đông – Tây –Nam – Bắc Hải Vĩnh trấn Đại Vương (sao từ bản gốc ở xã An Lạc trên đề Đình Lưu xã Đông Phương – Huyện Đông Hưng- cùng phụng sự).

Từ thần tích trên ta thu lượm được một số thông tin quý giá:

- Thục An Dương Vương khi thua mất nước đã xuống Thủy phủ rồi được phong là thần Nam Hải, trấn trị các cửa sông. Thần tích gốc lấy từ xã An Lạc (nay là xã Đông Vinh cùng huyện Đông Hưng).

- An Dương Vương hiển linh “phối hợp với Đông Tây Bắc Hải các vị Long Vương đi cứu giúp dân cấy trồng được sinh lợi”. Đây là thông tin rất then chốt cho biết các vị Hải thần là các Long vương hiển linh làm phúc thần cùng với An Dương Vương.

- Các vua đời sau theo cửa sông thuộc phương nào là phong sắc với hàm vị: Đông – Tây – Nam – Bắc Hải Vĩnh trấn Đại Vương.

Như vậy Nam Hải An Dương Vương lại có liên quan đến Thủy phủ Động Đình và Tứ Hải Long Vương.

Một chút manh mối khác về Tây Hải Đại vương là ở đình Bái (Long Bối) xã Đông Hợp, huyện Đông Hưng kể rằng Tây Hải Đại vương là vị thần có công hộ đê thời Hồng Đức, phối thờ ở đây cùng với Đông Hải Nguyễn Phục và Nam Hải An Dương Vương. Sự tích tương tự về Tây Hải Đại vương hiển linh thời Lê còn gặp ở khu vực phía Nam Thái Bình trên lưu vực sông Trà Lý. Còn đối với thần Bắc Hải, là vị thần ít gặp thì không rõ sự tích, chỉ biết là phúc thần.

Sông Diêm Hộ cũng là nơi phát tích của sự tích vua cha Bát Hải Động Đình. Theo thần tích thôn Đào Động (nơi có đền Đồng Bằng thờ vua cha Bát Hải) thì Quý Nương sinh một bọc trứng, nở ra 3 con rắn. Con rắn thứ nhất ở cửa sông trang Đào Động. Con rắn thứ hai chạy về cửa sông trang Thanh Do. Con rắn thứ ba chạy về nằm ở trang Hoa Diêm. Ba địa điểm xuất thế của các vị thủy quan Động Đình này là Đào Động – Thanh Do – Hoa Diêm, đều nằm dọc theo sông Diêm Hộ. Ba con hoàng xà sau hóa thành ba vị tướng quân, giúp vua Hùng đánh Thục và xây dựng làng xóm quê hương miền Đào Động.

Cũng ở Đào Động còn thờ và có thần tích 5 vị hoàng tử con vua Bát Hải Động Đình là 5 vị thủy quan đã giúp vua Hùng đánh Thục rồi 5 vị được cử đi quản trị các cửa biển. Giống như thần Nam Hải ở An Cố, đây cùng là những người anh em sinh cùng bọc dưới thời Lạc Long Quân (vua cha Bát Hải), làm thủy thần trấn trị ngũ phương. Tức cũng là Ngũ vị tôn quan trong Công đồng Thoải phủ.

Sông Diêm Hộ ngày nay là dòng sông nhỏ, nhưng với sự phát tích dày đặc của các vị Hải thần ở đây thì rất có thể trong quá khứ nơi đây đã từng là cửa chính của sông Hồng đổ ra biển Đông. Có như vậy thì đây mới có thể tập trung nhiều nơi thờ Hải thần theo lối cổ như vậy.

Cụm giữa sông Trà Lý và sông Hồng

Khu vực thờ Hải thần ở phía Nam Thái Bình không bám theo 2 dòng sông lớn ở đây là sông Hồng và sông Trà Lý, mà phân bố ở khoảng giữa lưu vực hai con sông này. Có thể thủy văn thời cổ sử khác so với vị trí hiện tại của sông Hồng và sông Trà Lý.

Về số lượng di tích thờ Hải thần có huyện Vũ Thư với 3 di tích, TP. Thái Bình có 2 di tích. Huyện Kiến Xương có 12 di tích, huyện Tiền Hải có 7 di tích. Tuy số lượng di tích không hẳn nhiều như lưu vực sông Diêm Hộ nhưng các di tích ở đây thường là phối thờ 2, 3 vị Hải thần. Thường gặp là thần Đông Hải hoặc Nam Hải phối thờ với Tây Hải. Thần Bắc Hải không gặp ở khu vực phía Nam này.

Điển hình ở khu vực này là đền Vua Rộc tại xã Vũ An, huyện Kiến Xương, là một trong Chân Định tứ linh từ. Đền thờ 2 vị thần Đông Hải và Tây Hải Đại vương. Cho dù có sách cho rằng thần Đông Hải này là Đoàn Thượng thời Lý – Trần, nhưng ngay câu đối trong đền nói:

不記何年跡扥南交雙顯聖
相傳此地名髙真定四靈神
Bất ký hà niên, tích thác Nam Giao song hiển thánh
Tương truyền thử địa, danh cao Chân Định tứ linh thần.
Dịch:
Không biết tự năm nào, dấu thác Nam Giao hai hiển thánh
Lưu truyền nơi đất nọ, danh cao Chân Định bốn linh thần.

Câu đối cho biết đây là 2 vị cổ thần đã hiển thánh từ thời Nam Giao – Hùng Vương. Lạ nữa là câu đối khác trong đền đề:

瑞應金龜神爪依依留井上
威揚木馬健蹄隠隠仰橋邊
Thụy ứng Kim Quy, thần trảo y y lưu tỉnh thượng
Uy dương mộc mã, kiện đề ẩn ẩn ngưỡng kiều biên.
Dịch:
Linh ứng Rùa Vàng, móng thần y nhiên nơi giếng cũ
Oai dương Ngựa Gỗ, vó hùng thấp thoáng chốn cầu biên.

Không rõ tích thần trảo Kim Quy và dấu chân ngựa gỗ ở đây là nói tới sự tích nào. Rất có thể chỉ mối liên hệ tới vị Nam Hải An Dương Vương như ở huyện Đông Hưng đã kể trên.

Dù thế nào thì đền Vua Rộc chắc chắn là đền thờ các vị Hải thần. Điều này rõ ngay từ cái tên Rộc. Một số tác giả cho biết chữ Lạc có thể phục nguyên âm là Rộc, chỉ ruộng lúa. Tới nay người Mường vẫn gọi ruộng là rộc. Vua Rộc như vậy có thể là Vua Lạc hay Lạc Vương, phù hợp với thời Nam Giao mở nước.

Một sự tích lý giải khác cho đền vua Rộc lại có thể tìm thấy trong các đi tích thờ Hải thần trong cùng khu vực, là các di tích thuộc xã Bình Thanh cùng huyện Kiến Xương. Đây là tổng Đa Cốc xưa. Đình Đa Cốc thờ các vị Đông Hải Đại vương, Tây Hải Đại vương, Cao Sơn Quý Minh, Trưởng Thái Giám. Trong đó sự tích kể rằng Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng là con trai thứ 4 của Lạc Long Quân xuất thế, đã được người em cùng bọc của mình là Tây Hải Đại vương hiển linh phù giúp. Tây Hải Đại vương là con trai thứ năm của Lạc Long Quân. Đáng chú ý là Đa Cốc nằm ở gần sông Hồng nên sự tích có yếu tố của dòng Lạc Long như ở các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên.

Như vậy sự tích ở Đa Cốc hoàn toàn tương đồng với đền Vua Rộc từ việc thờ 2 vị Đông Hải và Tây Hải, họ Lạc (Rộc), hiển linh ở thời Lý-Trần. Nói cách khác đây vẫn là các vị Hải thần dòng Lạc Long như ở khu vực sông Diêm Hộ nói trên.

Một số nơi ở Kiến Xương thờ thần Tây Hải với ghi nhận là vào thời Hùng Vương như ở đình Cao Mại Nhân (xã Quang Trung), đình Thượng Hiền (thôn Phú Cốc xã Nam Bình).

Một cụm di tích đáng chú ý khác của Kiến Xương là 3 làng Quân Bác, Bác Trạch, Phương Trạch thuộc tổng Nam Huân xưa, nay thuộc xã Vân Trường và Phương Công của huyện. Nơi đây có sự tích về 3 vị Hải Linh thần là Nam Hải Linh quan, Đông Hải Linh quan, Tây Hải Linh quan với truyền thuyết kỳ vĩ: thân các ngài cao vạn trượng, đầu to trăm thước, lấy sông làm nhà, lấy biển làm vườn, hít thở ngàn dặm, phun nước vạn thùng, tựa có 800 ngôi sao phù giúp sáng rực. Thần quẫy đuôi thành dông bão, đứng hàng đầu trong các vị thủy thần… 

Đặc điểm riêng nữa của vùng phía Nam Thái Bình là bên cạnh thờ Tứ Hải Long vương, nơi đây còn thờ những vị hải thần chung khác như Thủy Hải, Đại Hải, Long Vương, đặc biệt là ở huyện Tiền Hải và khu vực gần với sông Hồng. Những vị hải thần này là những vị cũng từng gặp ở vùng sông Hồng phía tỉnh Hà Nam và Hưng Yên. Một số nơi ở Tiền Hải và TP. Thái Bình còn thờ thủy thần Quảng Lợi Bạch Mã, tức là thần Long Đỗ như ở vùng Thăng Long.

Tóm lại, qua việc phân tích các di tích thờ Hải thần ở Thái Bình có thể thấy nơi đây, nhất là vùng sông Diêm Hộ, là nơi phát sinh ra tín ngưỡng này. Bốn vị Đông Hải, Tây Hải, Nam Hải, Bắc Hải là những vị Long hầu thời Hùng Vương, trấn nhậm các vùng cửa sông góc biển, tham gia vào cuộc chiến đánh Thục lập quốc ban đầu của Lạc Long Quân (Bát Hải Động Đình). Đây cũng là bộ Ngũ vị tôn quan của Công đồng Thoải phủ. Trong tín ngưỡng hải thần, các vị được thờ dưới hình thức là các thủy thần hiển linh tạo phúc cho dân. Dấu vết của Tứ Hải Long vương như được nói đến trong các sách đạo Giáo thời Tần Hán không ngờ lại chính là từ vùng cửa sông Hồng đổ ra biển tại Thái Bình.

Wednesday, July 10, 2024

Ngũ đế thiên hoàng

Trong Đạo Giáo thời Hán - Tam quốc có 5 vị thần cai quản 5 hướng gọi là Ngũ đế Thiên hoàng. Sách Lão Tử trung kinh viết:

- Thần phương Đông tên là Câu Mang Tử, hiệu là Văn Thuỷ Hồng Nhai Tiên Sinh, là Đông phương Thương đế, Đông Hải quân;
- Thần phương Nam tên là
Chúc Dung Tử, hiệu là Xích Tinh Thành Tử, là Nam phương Xích đế, Nam Hải quân;
- Thần phương Tây phương tên là
Nhục Thu Tử, hiệu là Hạ Lý Hoàng Công; là Tây phương Bạch đế, Tây Hải quân;
- Thần phương Bắc tên là
Ngu Cường Tử, hiệu là Huyền Minh Tử Xương, là Bắc phương Hắc đế, Bắc Hải quân.
- Thần Trung ương tên là
Hoàng Thường Tử, hiệu là Hoàng Thần Bành Tổ, là Trung ương Hoàng đế quân.

Như vậy Ngũ đế ứng với 5 phương Đông Tây Nam Bắc và Trung tâm, ứng với 5 màu Xanh Đỏ Trắng Đen Vàng. Đặc biệt đây cũng là các vị "thủy thần" mà được gọi là "Hải quân" của 4 biển Đông Tây Nam Bắc.

Ngũ đế Thiên hoàng và Ngũ phương, Ngũ sắc.

Trong Sơn hải kinh, các vị thần bốn phương cũng đều dùng rồng là vật cưỡi. “Phương Nam Chúc Dung, thân thú mặt người, cưỡi hai rồng”, “Phương Tây Nhục Thu, tai trái có rắn, cưỡi hai rồng”, “Phương Đông có Câu Mang, thân chim mặt người, cưỡi hai rồng”, “Phương Bắc Ngu Cường, thân đen có tay chân, cưỡi hai rồng”. Việc các thần linh tứ phương cưỡi rồng cho thấy tính chất Thủy thần của các vị này.

Về Ngũ hành và các vị thần trấn phương trong Lã Thị xuân thu của Lã Bất Vi ghi:

Mạnh Xuân Kỷ: Tháng đầu xuân: Mặt trời ở vị trí sao Doanh Thất. Buổi chiều hôm, sao Sâm ở phương chính Nam, mặt trời tháng này ở Giáp Ất (phương Đông). Vị đế vương tương ứng với tháng này là Thái Cao Thị, dựa vào Mộc Đức mà xưng vương, vị thần đối giúp với tháng này là Mộc thần Câu Mang. Động vật tiêu biểu tháng này là loài có vảy... con số đối ứng với tháng này là số 8, số của Thiếu Dương, … Thiên tử ngồi xe có cờ xanh, mặc áo xanh, đeo ngọc xanh (thuận ứng với Mộc sắc).

Mạnh Hạ Kỷ: Tháng đầu mùa hạ: Mặt trời ở vị trí sao Tất. Buổi chiều hôm, sao Dực ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vụ Nữ ở phương Bính Đinh (phương Nam). Vị đế vương tương ứng với tháng này là Viêm Đế, dựa vào Hỏa đức mà xưng vương. Vị thần đối giúp tháng này là Hỏa thần Chúc Dung. Động vật tiêu biểu tháng này là loài có lông vũ…, con số đối ứng với tháng này là số 7… Thiên tử ngồi xe màu đỏ, … trên xe có cờ đỏ, mặc áo đỏ, đeo ngọc đỏ.

Mạnh Thu Kỷ: Tháng đầu mùa thu: Mặt trời ở vị trí sao Dực. Buổi chiều hôm, sao Đẩu ở phương chính Nam, mặt trời tháng này ở phương Canh Tân (phương Tây). Vị đế vương tương ứng với tháng này là Thiếu Hạo, lấy đức Kim mà xưng vương thiên hạ. Vị thần đối giúp của tháng này là Kim thần Nhục Thu, tên là Cai. Động vật tiêu biểu tháng này là loài có lông mao,... con số đối ứng với tháng này là số 9 số của Thiếu Âm, … Thiên tử ngồi xe có cờ trắng, mặc áo trắng, đeo ngọc trắng làm đồ trang sức (thuận ứng với sắc Kim).

Mạnh Đông Kỷ: Tháng đầu mùa đông: Mặt trời ở vị trí sao Vĩ, buổi chiều hôm sao Ngụy ở phương chính Nam, mặt trời tháng này ở phương Nhâm Quý (phương Bắc). Vị đế vương tháng này là Chuyên Húc, lấy đức Thủy mà xưng vương thiên hạ. Vị thần đối giúp của tháng này là Huyền Minh Thủy thần. Động vật tiêu biểu tháng này là loài giáp giới (loài rùa),... Con số của tháng này là số 6… Thiên tử ở trong phòng đầu tây của nhà hướng bắc, ngồi xe đen, trên xe có cờ đen, ngựa kéo xe là ngựa đen, trên xe có cờ đen, đeo ngọc đen.

Đây là bảng kê khá đầy đủ của sự vận dụng Ngũ hành.

1. Thái Cao – Mộc đức – mùa xuân - phương Đông - loài có vảy (rồng) - số 8 – màu xanh - Mộc thần Câu Mang.
2. Viêm Đế – Hỏa đức – mùa hạ – phương Nam (tức phương Bắc của Dịch lý) - loài có lông vũ (chim phượng)- số 7 – màu đỏ - Hỏa thần Chúc Dung.
3. Thiếu Hạo – đức Kim – mùa thu – phương Tây - loài có lông mao (kỳ lân) – số 9 – màu trắng - Kim thần Nhục Thu.
4. Chuyên Húc – Thủy đức – mùa đông – phương Bắc (tức phương Nam của Dịch lý) - loài có giáp giới (rùa) – số 6 – màu đen - Thủy thần Huyền Minh.

So sánh với đạo Tam Tứ phủ ở Việt Nam, một tín ngưỡng rất gần với Đạo Giáo, thì Ngũ đế Thiên hoàng của Đạo Giáo chính là Ngũ vị Tôn quan trong ban Công đồng Tứ phủ. Cũng là 5 vị thủy thần trấn trị 5 phương, ứng đúng với 5 màu của Ngũ sắc.

Trên những gương đồng thời Hán Tam quốc thường gặp loại gương có đúc hình các vị thần và dòng chữ:

Ngô tác minh kính, u luyện tam thương. Chu duyên dung tượng, Ngũ đế Thiên hoàng. Bá Nha đan cầm, Hoàng Đế trừ hung. Chu điểu Huyền vũ, Bạch hổ Thanh long. Quân nghi cao quan, tử tôn phiên xương. 

Nghĩa là: Tôi tạo gương sáng, phối luyện ba loại. Quanh viền tạc tượng, Ngũ đế Thiên hoàng. Bá Nha đánh đàn, Hoàng Đế trừ hung. Chu điểu Huyền vũ, Bạch hổ Thanh long. Phong chức quan cao, con cháu vững yên.

Chữ Quân nghi cao quan, thể hiện phép tắc về thứ bậc quan chức, hay tương đương với khái niệm "Công đồng" trong Tứ phủ. Chính chữ "quan" này là trong tên của Ngũ vị tôn quan.

Không có mô tả ảnh.
Mẫu gương Trùng liệt thần thời Hán.

Điển hình của các vị thủy thần trấn các phương theo màu sắc của Ngũ hành là tại Nhật Tân (Hà Nội), nơi thời Uy Linh Lang và Lục bộ thủy phủ hay Đoài hồ Thất giáp: Đại vương là giống giao long, là trưởng của Xích Giáp, hiệu là Uy Linh Lang, cùng với 6 người được nhận phong ở đó là Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp, Tử Giáp. Ngũ phương ở đây là phương Trung ương màu Vàng – Hoàng giáp, phương Nam Đỏ - Xích và Chu giáp, phương Bắc màu Đen – Hắc và Tử giáp, phương Đông màu Xanh – Thanh giáp, phương Tây màu Trắng – Bạch giáp.

Làng Mai Xá, xã Song Mai, Kim Động, Hưng Yên thờ 5 vị thủy thần thời Hùng Vương với sự tích khá giống như truyện về Bạch Hạc Tam Giang. Xưa người đời truyền rằng: Ở quận Động Hải, xứ Hải Dương có người họ Hải tên Bột, tên chữ Văn Tử, lấy vợ người cùng quận, phường Thủy Cơ, tên húy là Trương Thị Đoan... Bà thấy mặt nước có rồng vàng đẻ được năm quả trứng... tự nhiên nứt ra, làn nước biển ngào ngạt hương thơm, hương nước như tan biến vào người... Bà thấy mình có thai... sinh ra một bọc, nở ra 5 người con trai... Đặt tên người con thứ nhất là Cự Lân, người thứ hai là Hống Lý, tên hiệu Cao Minh, người con thứ bà là Thổ Linh, người con thứ tư là Long Hầu, tên hiệu Cao Mang, người con thứ năm là Túc Linh...

Sau đó thần tích kể rằng ở Mai Xá có 2 gia đình là Đổng Công và Nhân Công, hai bà vợ nằm mộng thấy rồng vàng và gặp một sứ giả Thượng đế đến báo tặng cho Đổng Công một vị Thiên thần, cho Nhân Công hai vị Sơn thần. Hai bà vợ mang thai, sinh được 3 người con là Vĩnh Công, Mộc Công và Lại Công. Tới khi vua Hùng mở khoa thi chọn người tài thì Thành Công (Thổ Linh), Mang Công (Cao Mang) được làm Thủy tào Đại phán quan, kiêm quản 50 bộ đứng đầu Thủy thần. Vĩnh Công, Mộc Công và Lại Công được phong kiêm quản 50 bộ đứng đầu Sơn thần.

Khi trong nước có nạn lũ lụt, 5 ông được cử đi tuần hành các nơi, đắp đê, đuổi lui thủy binh phá hoại. Khi có giặc Thục, các ông cùng Sơn Thánh dẫn các đạo quân thủy bộ chống giặc. Thắng giặc, Thành Công và Mang Công hóa ở cung Đa Chất, Vĩnh Công hóa ở huyện Thượng Phúc. Còn Mộc Công và Lại Công hóa ở quê Mai Xá.

Đến đời Đinh Tiên Hoàng phong là:

- Thổ Linh Trung Thành Phụ quốc Đại vương;
- Cao Mang Tế thế Đại vương;
- Đổng Vĩnh Hộ quốc Đại vương;
- Mộc Phàm Phù quốc Đại vương;
- Trấn Lại Trợ quốc Đại vương.


Thần tích làng Mai Xá vừa có bóng dáng của sự tích Bạch Hạc Tam Giang trong tên Thổ Linh Trung Thành Đại vương, vừa có sự tích của đền Đồng Bằng hay ở phủ Ứng Thiên với tên thần Đổng Vĩnh. Đặc biệt là 1 trong năm vị ở đây có tên Cao Mang (cũng như Câu Mang), trùng với tên của vị Đông phương Thương đế trong bộ Ngũ đế Thiên hoàng của Đạo Giáo.

Thật bất ngờ khi nhận ra hình tượng các vị thần Đạo Giáo trên đồng kính thời Hán lại là tiền thân của Ngũ vị Tôn quan trong Công đồng Tứ phủ Việt Nam ngày nay.

Thần Cao Mang (Câu Mang) là vị thủy thần được thờ phổ biến ở các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Thần tích thường kể đây là vị tướng thời Hùng Vương, chống giặc Thục cùng với những vị tướng khác. Câu Mang còn là vị thần được làm tượng trong lễ tế Xuân ngưu ở kinh thành Thăng Long thời Lê, bởi phương Đông là phương đại diện cho mùa xuân sinh sôi nảy nở.

Khu vực Thuận Thành, Bắc Ninh cũng có tục thờ Ngũ phương yết đế. Đình làng Nghĩa Vi ở xã Hoài Thượng thờ 3 vị thần:

- Tây phương Bạch đế;
- Bắc phương Hắc đế;
- Nam phương Xích đế.

Trong đình do đó có 3 con ngựa gỗ cùng màu với mỗi vị Yết đế. Ba vị thần này đã hiển linh khi Trưng Vương lập đàn cầu khấn Tản Viên Sơn Thánh ở Hát Môn và phù trợ Trưng Vương dẹp giặc.

Cạnh làng Nghĩa Vi là làng Bình Cầu thờ vị thần là Đông Hải Đại vương, tức là vị trí phía Đông còn thiếu trong 3 hướng đã có thờ ở đình Nghĩa Vi.

Làng Thiên Lộc, Trung Chính, Lương Tài, Bắc Ninh xưa thờ 5 vị thần hiển ứng phù giúp Tô Hiến Thành phá Tống thời Lý Anh Tông. 5 vị thần hiển mộng, tự xưng là:

- Anh em chúng ta vốn là dòng dõi Lạc Long Quân họ Hùng, vâng mệnh thiêng của Thiên đình, núi sông cùng nhau, âm dương hợp đức ở tại miếu trang khu Nhuế Đông, tên gọi thứ nhất là Bản cảnh Thành hoàng Sàng Hoàng Hiển Ứng Đại vương, một là Bản cảnh Thành hoàng Uy Vũ Linh ứng Đại vương, một là Bản cảnh Thành hoàng Đô Thiên Đương Đình Đại vương, một là Bản cảnh Thành hoàng Tam Lang Thuỷ Tế Đại vương, một là Bản cảnh Thành hoàng Thái Ất Linh Thông Đại vương.

5 vị thủy thần dòng dõi Lạc Long Quân như thế tương ứng với Ngũ vị tôn quan. Xét theo Ngũ hành thì vị Sàng Hoàng Hiển Ứng là ở vị trí Trung tâm, màu Vàng (Hoàng). Vị Tam Lang Thủy Tế trong sắc phong được gọi là Linh Lang, chiếm vị trí hướng biển Đông, số 3. Vị Thái Ất còn có tên là Đắc Thủy Thái Ất, chiếm hướng Bắc bởi số 1 (Thái Ất) và hành Thủy (đức Thủy). Còn lại hai vị Uy Vũ Linh ỨngĐô Thiên Đương Đình sẽ ứng với 2 phương vị còn lại là hướng Nam và hướng Tây.

Các biến thể của Ngũ đế Thiên hoàng hay Ngũ vị tôn quan trong các sự tích và di tích ở miền Bắc Việt còn gặp ở nhiều nơi. Như Tứ vị Lôi Oanh hiển ứng giúp Cao Biền đánh giặc Nam Chiếu ở Hưng Hà, Thái Bình, hay Năm anh em chàng Vịt cầm nghĩa kỳ thời Trưng Vương ở Thanh Lãng, Vĩnh Phúc...