Showing posts with label Lạc Long Quân. Show all posts
Showing posts with label Lạc Long Quân. Show all posts

Wednesday, February 18, 2026

Bạn có biết: Lạc Long Quân và Sùng Lãm ở 2 thời Hùng Vương khác nhau

 

Giá tượng Lạc Long Quân ở đình Nội Bình Đà, Hà Nội.

Nơi còn lưu được sự tích đầy đủ nhất về Lạc Long Quân là làng Xích Đằng, nay thuộc TP. Hưng Yên. Ngọc phả Lạc Long Quân ở đây do Hàn lâm học sĩ Nguyễn Bính thời Lê Hồng Phúc biên soạn, kể khá giống với Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái, rằng: Kinh Dương Vương thường dạo chơi dưới Thủy phủ, sau lấy con gái Động Đình quân Long Vương sinh ra Sùng Lãm (tức Lạc Long Quân) thay mình trị nước. Rồi: … Long Quân đã về Thủy phủ… Long Quân ở lâu tại Thủy quốc.

Thủy quốc là tên gọi khu vực nước ta được thành lập từ Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân là vua của Thủy phủ, thông tin rất rõ ràng. Nước Xích Quỷ, đọc phiên thiết là Xủy – Thủy, là tên gọi trực tiếp của Thủy quốc thời Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, mà được các thần tích gọi là thời Kinh triều Lạc Thị.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả chép: Long Quân họ Hùng tên Lạc, húy Sùng Giác, hiệu là Hùng Hiền Vương, thống nhất cơ đồ… Hùng Hiền Vương ở ngôi 269 năm, sau về biển, hoá sinh bất diệt, làm Động Đình Đế Quân.

Về trăm người con cùng bọc trứng của Lạc Long Quân đã được chia làm 2 nhánh lên rừng và xuống biển. Khi chia tay Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: Ta là giống rồng thuộc loài Thủy tộc, nàng là dòng Tiên trên núi… Nay ta chia ra năm mươi người con quay về Thủy phủ mà chia trị các nơi… Những người con theo cha Lạc Long Quân về Thủy phủ chính là những vị Thủy thần cai quản các nơi đầu sông góc biển.

Ngọc phả về Việt Nam Lạc Thị ở vùng Thuận Thành (Bắc Ninh): Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế. Một lần qua làng, thấy trước có 3 chẽ sông quanh co. Sau có 3 ngọn núi nhấp nhô đẹp đẽ. Sơn thủy hữu tình. Nhân đó dựng hành cung ở bờ sông, đặt tên là Nghi Giang cung. Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG.

Ngọc phả Lạc Long Quân chép: Lại đặt tướng văn là Lạc hầu, tướng võ là Lạc tướng; con trai vua là Quan lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương… Các Lạc hầu, Lạc tướng do đó là tên gọi những người con đã theo cha Lạc Long Quân về biển, cai trị các vùng ở miền đất Lạc. Như vậy trong Lạc Long Quân là hình tượng của vị thủ lĩnh đứng đầu Thủy quốc, khởi đầu cho họ Lạc của các Lạc hầu, Lạc tướng ở vùng sông nước, đồng bằng ven biển.

Dưới thời Lạc Long Quân cuộc chiến tranh duy nhất được kể là cuộc chiến với Đế Lai để chiếm nàng Âu Cơ, do có truyền thuyết nói rằng Âu Cơ là ái thiếp của Đế Lai, chứ không phải con gái: … Đế Lai quay về nơi ở không thấy Âu Cơ, sai quần thần tìm kiếm khắp nơi trong thiên hạ. Long Quân có thần thuật ẩn hiện biến hóa ra muôn trạng, yêu tinh quỷ mị, rồng rắn, tê giác, voi. Những kẻ tìm đến đều sợ hãi không dám tiếp tục tìm nữa. Đế Lai đành phải quay về. Cuộc chiến này đã loại bỏ quyền lực của chính dòng Đế Minh (tức Đế Lai) mà đem đến sự lên ngôi chủ thiên hạ của Lạc Long Quân.

Sự kiện Long Quân đánh đuổi Đế Lai tranh đoạt ngôi vị chủ thiên hạ (trong hình ảnh bà Âu Cơ) còn được lưu truyền ở ngay vùng đất Thăng Long. Truyện Hồ tinh trong Lĩnh Nam chích quái kể rằng khi con cáo chín đuôi làm hại người ở Long Biên, Long Quân bèn ra lệnh cho Lục bộ thủy phủ dâng nước lên phá vỡ hang đá, làm thành một đầm nước lớn. Hồ Tây – đầm Xác Cáo là di tích của thời kỳ Lạc Long Quân mở Thủy quốc Động Đình nơi rốn rồng Long Đỗ của của dòng sông Hồng.

Trong khi đó, cái tên Sùng Lãm với họ Sùng lại gắn với hình tượng của dòng lên núi của các Sơn thần. Như đã từng trình bày, Kinh Dương Vương cũng là Tản Viên Sơn Thánh và là vua Đại Vũ trị thủy bên dòng sông Đà. Cha của Đại Vũ là Sùng bá Cổn, cũng từng đảm nhận việc trị thủy thời Nghiêu Thuấn. Thông tin về nước Sùng, một nước thời Tam Đại Trung Hoa, theo wikipedia: Tương truyền vào thời Hạ, cha của vua Vũ là Cổn được phong là Sùng Bá đã lập nên thành trì nước Sùng, sau khi Cổn bị giết thì đất ấy từ đó liên tục không có vua. Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân, nên đây chính là mối liên hệ dẫn đến việc Lạc Long Quân cũng mang họ Sùng từ Sùng bá Cổn.

Về nước Sùng, truyền thuyết chép tiếp: Nước Sùng thời Ân Thương dời đô sang chỗ khác… Quốc quân nước này trong giáp cốt văn được gọi là “Tông hầu”, người trong họ từng giữ chức khuyển quan nên gọi là “khuyển tông”… Dưới thời Đế Tân, Sùng Hầu Hổ mật báo việc Chu Văn Vương mưu đồ tạo phản với vương thất nhà Thương. Văn Vương về sau liền khởi binh diệt luôn nước Sùng, lấy đô thành của nước này dựng nên Phong Kinh. 

Theo đó, nước Sùng trong thư tịch cổ là:
– Nơi Đại Vũ trị thủy, tức là kinh đô Trung Hoa thời Hạ Vũ.
– Nơi đóng đô của Sùng Hầu Hổ, Bắc Bá Hầu dưới thời Ân Trụ Vương. Tông hầu nghĩa là nước của “tổ tông” Trung Hoa, tức còn là đất gốc từ thời Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn.
– Là Phong kinh của thời Chu Văn Vương.

Thư tịch cổ cho thông tin hết sức quan trọng. Cha của Đại Vũ là Cổn, là thủ lĩnh vùng đất Sùng. Do vậy, nước Sùng của Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương cũng chính là nơi Đại Vũ trị thủy, tức là miền Bắc Việt ngày nay. Hình ảnh Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt bao gồm những sự tích của cả thời Đại Vũ trị thủy và Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương. 

Nước Sùng còn in dấu ấn trong sử Việt với tên Sùng Lãm của cha Lạc Long Quân. Còn ở Bình Đà, nơi thờ Lạc Long Quân thì có ghi chép 4 đời chúa họ Sùng có là Sùng Nghiêm, Sùng Quyền, Sùng Huề và Sùng Lãm. Lạc Long Quân được coi là người khởi đầu triều Hùng nên các chúa họ Sùng sau đó cũng thuộc về các đời Hùng Vương, mà Hùng triều kết thúc bằng sự kiện Thục Vương đánh Hùng Duệ Vương. 

Sùng Công còn là một trong Tam vị Tản Viên Sơn Thánh. Vị Tả kiên thần Cao Sơn của Thánh Tản có tên là Nguyễn Sùng. Đây hẳn cũng là một vị chúa họ Sùng đã cùng Sùng Hầu Hổ chống giặc Thục. Ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh ở vùng Sơn Tây kể: … Vua (Hùng Duệ Vương) rất yêu mến bèn phong người em thứ hai của Sơn Thánh ông Sùng Tả Kiên Thần là Tả đô đài Đại phu, người em thứ ba ông Hiển Hữu Kiên Thần làm Hữu đô đài Đại phu. Vua tôi đức hợp, thiên hạ thái bình, vạn dân gặp được thời no đủ. Bốn biển ngưỡng cảnh tượng thái hòa. Duệ Vương vì công lao đó mà ban cho búa sắt, cùng hưởng lành với đất nước…. Phong Sơn Thánh là Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng, tăng cấp ông Sùng làm Cao Sơn Đại vương, ông Hiển làm Quý Minh Đại vương.

Thần tích ở vùng Bắc Giang về Cao Sơn Đại vương (thần tích Lỗ Hạnh) kể rằng Cao Sơn sinh ra ở đạo Hồng Châu… Thế rồi đạo Hồng Châu chọn ông Cao Sơn đi dự tuyển. Khi nhà vua thấy ông ứng đối lưu loát, có tài văn võ, là người có năng lực tài cao. Vua bèn cho ông Cao Sơn quản quân sự, làm Đô chỉ huy sứ Tả đạo Tướng quân…. Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn gọi ông Cao đến giao cho 5 ngàn quân, trước tiên đi tuần… Khi đó Sơn Thánh cùng với ông Cao tiến quân đến đồn giặc Thục ở xứ Sóc Sơn đạo Bắc Kinh, đánh một trận lớn… Lại ban cho ông Cao Sơn về thực ấp ở đạo Kinh Bắc. Ông bái tạ, trở về nơi trị nhậm. Khi đó đương trời mùa thu, ông ngồi ở trong doanh trại. Bỗng thấy trời đất mù mịt, mây mù nổi lên như hình dải lụa đỏ. Thấy ông Cao Sơn bay ra theo mây, tới núi Đào Động đạo Thái Nguyên thì không thấy nữa, tức là ông đã hóa.

Câu chuyện Cao Sơn đánh Thục trong sử Việt là việc Sùng Hầu Hổ chống lại Chu Văn Vương, mà kết thúc là Văn Vương chiếm được đất Sùng, lập Phong kinh ở đó. Truyền thuyết Việt kể thành Thục Vương được vua Hùng nhường ngôi liền về Phong Châu đóng đô, lập đền miếu thờ các vua Hùng. Nước Sùng – Phong Châu chính là đất gốc tổ của Trung Hoa, mà giáp cốt văn gọi là “Tông hầu”, là nơi khởi phát của dòng họ Hùng từ thời Đế Minh Hữu Hùng Hoàng Đế Hiên Viên thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ.

Dòng họ Hùng truyền qua thời Nghiêu Thuấn, qua thời Hạ từ Đại Vũ, rồi Thương Ân, được ngọc phả Hùng Vương chép là 18 đời vua Hùng. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất tổ họ Hùng và được kể dưới tên Cao Sơn Đại vương trong cuộc chiến chống Thục Vương (Chu Văn Vương).

Đất Sùng là đất gốc tổ “Tông hầu” nơi Thái tổ Đế Minh mở nước bên dãy Thái Sơn, Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn, Đại Vũ trị thủy ở Long Môn núi Tản, Lạc Long Quân dựng Thủy quốc bên đầm Xác Cáo, Sùng Hầu Cao Sơn phò giúp Duệ Vương, cũng là nơi Thục Vương Cơ Xương khởi đầu nước Văn Lang.

Cao Sơn Đại vương trong Nhất thành khả cách chân kinh.
Đình Lỗ Hạnh, Hiệp Hòa, Bắc Ninh, nơi thờ Cao Sơn Đại vương đánh Thục thời Hùng Duệ Vương.
Tranh tố nữ ở đình Lỗ Hạnh.

Saturday, April 12, 2025

MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÔNG TRÌNH “SỬ TÍCH LONG QUÂN VÀ CÁC VỊ THỦY THẦN LẠC THỊ”


 1. NHỮNG PHÁT HIỆN MỚI ĐỘT PHÁ

Nhóm tác giả Nguyễn Đức Tố Lưu, Thích Tâm Hiệp, Nguyễn Đức Tố Huân đã thực sự làm người đọc bất ngờ bởi những phát hiện độc đáo và những kiến giải táo bạo, công trình đã mở ra nhiều hiểu biết mới trong nghiên cứu tín ngưỡng và lịch sử cổ đại Việt Nam, ví dụ như:

  • Chứng minh Liễu Nghị là Tản Viên Sơn Thánh (Kinh Dương Vương), đồng thời liên hệ với Đại Vũ của nhà Hạ, tạo nên một hệ thống thần thoại thống nhất giữa Việt Nam và Trung Hoa.
  • Giải mã danh tính các vị thần Thủy phủ như Long Đỗ, Bát Hải Long Vương, Quý Minh… những danh tính vốn bị lãng quên vì không ai có thể giải mã, hoặc bị hiểu sai trong nhiều nghiên cứu trước đây. Việc giải mã này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu Đạo Mẫu mà cả tín ngưỡng dân gian Việt Nam nói chung.
  • Giải thích và xác định một số địa danh then chốt như: “Động Đình”, “Bãi Trường Sa”, “cánh đồng Tương”…các kiến giải này đã thực sự giúp giới nghiên cứu cổ sử và văn hóa có cơ sở để xác định các không gian văn hóa khi nghiên cứu tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Chẳng hạn việc xác định Động Đình là vùng biển Đông, chứ không phải hồ nước ở Hồ Nam (Trung Quốc) là một cách khẳng định lại không gian văn hóa – chính trị của hệ Thủy phủ của dân tộc Việt. Đánh đổ các khuôn mẫu truyền thống, các biểu tượng và định kiến (không nhiều nhà nghiên cứu vượt qua) trước đây về mối liên hệ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa.
  • Đưa ra các biểu tượng văn hóa-sinh thái giúp các nhà nghiên cứu về sau có căn cứ để nhận diện, giải mã các biểu tượng liên quan đến thủy thần như: cây hoa gạo, hoa đào, biểu tượng rắn, rồng, bọc trứng,…. Những biểu tượng này không nhiều nhà nghiên cứu biết được bởi bị phủ lên bởi diễn trình lịch sử quá xa xưa, cũng như bị rời rạc và mờ nhạt bởi thiếu các cơ sở liên kết, xâu chuỗi về thần tích và biểu tượng. Đây là một đóng góp quan trọng về mặt biểu tượng học, nó sẽ giúp ích cho công tác điền dã, xử lý tư liệu cho các nhà nghiên cứu về sau.

Những phát hiện này không chỉ đảo lộn nhận thức cũ mà còn đặt nền móng cho một cách tiếp cận mới, khẳng định tính độc lập và bản sắc của văn hóa Việt, phá vỡ tư duy “dĩ Hoa vi Trung” bấy lâu nay khi nghiên cứu về Đạo giáo và thần phổ Việt Nam.

2. CÔNG TÁC ĐIỀN DÃ CÔNG PHU & TƯ LIỆU QUÝ HIẾM

Để có được nguồn tư liệu tham khảo đồ sộ như đa công bố trong công trình này, có lẽ nhóm tác giả đã phải dành nhiều năm lăn lộn thực địa mới có được. Những tư liệu này không chỉ phản ánh việc chú trọng công tác điền dã thực địa, lấy tư liệu thực địa làm cơ sở nghiên cứu và luận giải. Tính dân tộc học cũng đậm nét khi nhóm tác giả thu thập rất nhiều chuyện kể, truyền thuyết dân gian, ghi chép các dư liệu văn tự tại các nơi đến. Việc  thu thập, biên dịch những tư liệu này trở nên có giá trị vô giá không chỉ bởi độ hiếm, độ quý về mặt tư liệu mà còn thể hiện ở chỗ nội dung đắc giá, phục vụ đúng các mục tiêu và vấn đề nghiên cứu. Hầu hết những tài liệu đắc này là những tài liệu mà các học giả trước đây chưa từng tiếp cận được, hoặc tiếp cận lẻ tẻ, chưa tập hợp thành hệ thống:

  • Thần tích, ngọc phả, khoa nghi, bi ký từ các chùa, đền miếu cổ, thư viện,… giúp khôi phục lại hệ thống thần điện Thủy phủ một cách hệ thống. Những nguồn tư liệu mà nhóm tác giả dày công biên dịch, khảo cứu đã làm cho cuốn sách chứa đựng thêm nhiều giá trị mà các công trình nghiên cứu đi trước không làm được. Những Ngọc Phả Lạc Long Quân, Thần tích về các vị thần Lạc Thị, thần tích xã Liễu Châu, Phả lục năm vị Đại vương Thủy thần triều Hùng, Ngọc Phả chép về một vị thủy thần xuất thế triều Hùng, … cung cấp thêm các cứ liệu về cổ sử và phả hệ dòng Lạc Thị.

Cùng các Thần tích làng Tiên Cát, thần tích làng Nghi Khúc, Ngọc phả xã Xối Đông, ngọc phả làng Đa Chất…cung cấp thêm hành trạng của hệ thủy thần Việt Nam ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Đặc biệt thông tín từ một số tư liệu văn tế, bi ký ở hải ngoại như: bia về Đạt Lặc Giáp, bia về Bố Lạc Đà,  bia về Mạc Nhất Đại vương đã giúp cho người đọc hình dung được sự phân bố, diện mạo của dân tộc Lạc Việt xưa. Nó giúp cho người đọc nhận thức được vùng văn hóa Việt và tính liên quốc gia của vấn đề nghiên cứu về Lạc Việt.

  • Câu đối, văn bia, câu chuyện truyền thuyết dân gian ở những làng xã, chùa miếu, đền ít được biết đến, như đền Đồng Bằng (Thái Bình), đền Hội (Nghệ An), đền Á Lữ (Thái Bình), đền Nhân Phẩm (Ninh Bình)…củng cố thêm cho các luận cứ để nhóm tác giả đưa ra các nhận định và kiến giải mới.
  • Đối chiếu với Đạo giáo Trung Hoa nhưng không sao chép máy móc, mà luôn đặt trong bối cảnh bản địa, giúp làm rõ sự giao thoa và khác biệt.

Hệ thống tư liệu và dữ liệu mà nhóm tác giả có được, chứng minh rằng một công trình không ngồi trong máy lạnh mà rất dày công, nghiêm túc, kết hợp được các nguồn sử liệu, dữ diệu điền dã di tích, dân tộc học, phân tích văn bản học,… xứng đáng là tài liệu tham khảo quý, hiếm và rất pro cho các nhà nghiên cứu sau này.

3. ĐÓNG GÓP HỌC THUẬT CÓ GIÁ TRỊ: TINH THẦN “DĨ VIỆT VI TRUNG”

Cuốn sách không chỉ là một nghiên cứu chuyên sâu, mà còn là một tuyên ngôn học thuật lấy dân tộc Việt làm trung tâm, phá bỏ tư duy “dĩ Hoa vi Trung” (lấy Trung Hoa làm trung tâm) vốn thống trị giới nghiên cứu trước đây. Nhóm tác giả đã:

  • Khẳng định sự độc lập của thần thoại, truyền thuyết, thần tích Việt: cuốn sách chứng minh rằng các vị thần như Lạc Long Quân, Tản Viên, Thủy Tinh không phải là “phiên bản sao” của thần thoại Trung Hoa, mà có nguồn gốc và logic riêng.
  • Phác thảo lại cấu trúc quốc gia gắn bó mật thiết với nước (từ sông ngòi, hồ đầm, ao, biển) thời cổ đại, cho thấy người Việt đã có một hệ thống chính trị – tín ngưỡng phức tạp từ rất sớm, không thua kém các nền văn minh khác.
  • Công trình này cũng đặt lại vấn đề về cách tiếp cận sử học theo lối truyền thống, vốn thường xem nhẹ yếu tố biển đảo và thủy tộc. Cách tiếp cận này mở ra hướng tiếp cận mới về lịch sử Lạc Việt, văn hóa nước, tín ngưỡng dân gian Việt.

4. TINH THẦN NGUỒN CỘI VÀ SỰ KHAI KHÓNG

Không chỉ dừng lại ở học thuật, nhóm tác giả còn tạo cảm hứng về ý thức dân tộc, giúp người Việt hiện đại tự hào về cội nguồn thay vì nghĩ mình ít nhiều gì cũng “là phiên bản của Trung Hoa”. Tôi nghĩ, công trình này đã:

  • Khẳng định tư duy độc lập, không chạy theo các số đông nghiên cứu phổ biến, mạnh dạng đưa ra nhiều kiến giải độc lập, mới và có thể gây tranh cãi.
  • Kết nối quá khứ với hiện tại, gợi mở về một “tư duy về văn hóa nước” trong bối cảnh học thuật quá chú trọng đến các vấn đề khác, đặc biệt nó cũng kết nối với các vấn đề về văn hóa biển.
  • Truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ tiếp tục khám phá lịch sử và văn hóa dân tộc với tinh thần phản biện và sáng tạo.

5. MỘT SỐ CÂU HỎI THẢO LUẬN

  • Câu hỏi về phương pháp luận và xử lý nguồn tư liệu

Câu hỏi 1: Nhóm tác giả đã sử sử dụng tiêu chí nào làm cơ sở phân loại và liên kết sự tương đồng khi so sánh hệ Thủy phủ Việt Nam với các vị thần Đạo giáo Trung Hoa, hoặc diễn giải về tên gọi hoặc biểu tượng để  xác định sự nguồn gốc, sự tương đồng trong các câu chuyện về thủy thần?

Câu hỏi 2: Khi thần tích địa phương mâu thuẩn với hướng giải quyết vấn đề của nhóm tác giả thì nhóm cân nhắc yếu tố nào để ưu tiên diễn giải? Ví dụ như trường hợp Quý Minh vừa là Sơn thần lẫn Thủy thần thì nhóm tác giả có thể nói rõ hơn về cách xử lý như thế nào để thuyết phục người đọc chấp nhận một diện mạo thủy thần của ngài?

  • Câu hỏi về diễn giải nhân vật và thần điện

Câu hỏi 3: Nhóm tác giả có thể cho biết thêm một số bằng chứng để làm rõ thêm nhận định thần Long Đỗ là Thủy phủ Phù Tang Đại Đế? Liệu có khả năng đây là hai vị thần riêng biệt, được hợp nhất do ảnh hưởng Đạo giáo thời Lý-Trần hay không?

  • Câu hỏi về bối cảnh lịch sử và văn hóa

Câu hỏi 4: Với giả thuyết Thủy phủ Lạc thị như một mô hình phản ánh cấu trúc quyền lực thời Hùng Vương có được bổ trợ bằng những minh chứng khảo cổ học nào (ví dụ: khảo cổ học văn hóa Đông Sơn) hay không? Làm sao giải thích sự vắng mặt của biểu tượng Rồng trong nghệ thuật Đông Sơn nếu Rồng là biểu tượng trung tâm của Lạc Thị?

LỜI KẾT

Cuốn sách không chỉ là một công trình nghiên cứu xuất sắc, mà còn là một bước ngoặt trong tư duy viết sử ở Việt Nam. Nhóm tác giả xứng đáng được ghi nhận như những người tiên phong, dám đi ngược lại lối mòn, dám đặt câu hỏi lớn, và quan trọng nhất – dám khẳng định chân giá trị của văn hóa Việt. Hy vọng rằng, tương lai nhóm tác gải sẽ có nhiều nghiên cứu tiếp nối với nhiều phát hiện mới. Chúc mừng nhóm tác giả vì đã có thêm một tác phẩm để đời!

Đà Nẵng, 03 tháng 4 năm 2025

Nguyễn Đăng Hựu (ĐH Duy Tân)


Sunday, April 6, 2025

Cơ sở cho sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị

Có người hỏi tôi rằng: Dựa vào đâu để có thể viết nên cuốn sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị?

Tôi đáp rằng: Tiêu chí để nhận diện các vị thủy thần Việt là từ nhận thức về lịch sử…

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả mở đầu đã ghi rõ: Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường. Ban đầu là từ cháu ba đời Viêm Đế dòng Thần Nông Thị, từ Hy Hoàng tới đó, truyền ngôi quốc bảo chính thống Nam Bang, để lại cho con cháu đời sau vậy.

Vua Minh Mạng cho lập miếu Lịch đại đế vương tại kinh thành Huế ở gian chính giữa đã đặt bài vị thờ Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn, Chu Vũ.

Nước ta là Đại quốc Trung Hoa, mộ tổ Hùng Vương ở núi Côn Lôn. Đế vương trải các đời Hữu Hùng Hiên Viên Hoàng Đế là Đế Minh mở muôn nước. Đường Nghiêu Ngu Thuấn là Đế Nghi và Lộc Tục của 2 nhánh Hồng – Lạc. Kinh Dương Vương là Đại Vũ trị thủy. Lạc Long Quân là Hạ Khải, mở đầu Hoa Hạ.

Do đó, các vị cổ thần từ tín ngưỡng Trung Hoa như Đạo giáo hay shaman giáo của người Dao sẽ tương đồng với các vị thần cổ của người Việt.

Cách diễn giải, hay cách nhận định về các nhân vật trong huyền sử Việt là được tính đến các khả năng sau:

– 1 nhân vật của thần tích và truyền thuyết là hình tượng của 1 triều đại, 1 dòng tộc nên có thể gồm nhiều nhân vật lịch sử có quan hệ dòng tộc với nhau ở các thời gian khác nhau.

– Thời gian của truyền thuyết không tính bằng năm tháng mà tính bằng sự kiện. Chỉ có những sự kiện quan trọng mới được ghi chép truyền lại.

– Hình tượng văn hóa trong mỗi truyền thuyết được kể theo một góc nhìn mang tín chất địa phương và dòng tộc. Cho nên 1 nhân vật có thể được kể dưới những tên gọi khác nhau tùy theo góc nhìn, góc kể.

Trường hợp của Quý Minh Đại vương là ví dụ, có 2 nhân vật đều được kể là Quý Minh. Một là Quý Minh vào đầu của thời kỳ Hùng Vương, anh em của Tản Viên Sơn Thánh. Một là Quý Minh ở vào giai đoạn cuối của thời kỳ Hùng Vương chống Thục.

Câu chuyện về Quý Minh được nhận diện theo Cổ Lôi ngọc phả, ghi rằng 1 trong người chú là Lý Long Cảnh đã giúp Kinh Dương Vương đánh giặc. Như vậy vẫn là 1 nhân vật Quý Minh nhưng có 2 cách kể. Kẻ theo dòng lên núi thì đó là Sơn thần phụ trách Lãng Nhạc. Kể theo dòng xuống biển thì đó là vị Thủy thần đi ngược từ cửa biển Thần Phù về Long Đỗ.

Đối với thần Long Đỗ từ trước tới giờ không có sự tích khi thần còn sống, chỉ có kể về sự hiển linh nên không thể nhận diện được nhân vật này. Tuy nhiên, nhờ Cổ Lôi ngọc phả cung cấp thông tin quan trọng rằng thần Long Đỗ là cha của bà Đỗ Quý Thị ở hồ Dâm Đàm, tức là Mẫu Thoải hay Thần Long Nữ. Từ đó cho thấy thần Long Đỗ là Động Đình Đế Quân trong Truyện họ Hồng Bàng. Đây là dòng Long tộc, ở phía Đông, tức là vùng ven biển Đông.

Vị cổ thần của phương Đông là Đông Vương Công hay Đông Hoa Đế Quân trong Đạo giáo. Và cũng từ thông tin của Đạo giáo cho biết Đông Vương Công là Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế. Phù Tang là phương Đông. Như vậy vị vua Thủy phủ, xưng Đế, ở phương Đông thì rõ ràng là Động Đình Đế Quân. Suy ra Long Đỗ (theo sử dân gian) = Động Đình Đế Quân (theo họ Hồng Bàng) = Đông Vương Công (theo Tiên đạo thời Tần Hán) = Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại đế (theo Đạo giáo Tam phủ). Đây là nhận định mới của cuốn sách, nên không liên quan gì đến thời Lý Trần. Mà là tên gọi của những dòng tín ngưỡng và dòng chép sử khác nhau.

Thời kỳ Lạc Thị bắt đầu từ 4.000 năm lịch sử, không tương ứng vời thời Đông Sơn ở thiên niên kỷ 1 TCN, nên hiển nhiên không thể so sánh. Trong văn hóa Đông Sơn cũng có hình tượng Giao long, chính là rồng Lạc. Thời kỳ Lạc Long Quân khai phá miền biển được khẳng định bằng các di tích khảo cổ cồn sò điệp gặp rất nhiều nhất là ở ven biển miền Trung. Điển hình là di chỉ khảo cổ quốc giaThạch Lặc tại Hà Tĩnh, phát hiện cả xương người cổ tuổi 3500- 4000 năm. Di chỉ này năm ngay cạnh đền Sắc Thạch Lặc thờ Tam Lang Long Vương, là 3 vị thủy thần Lạc Thị, với hàng chục sắc phong từ thời Lê.

Mô hình phát triển xã hội ở thời kỳ Lạc Thị không phải là mô hình nhà nước quan chế đầy đủ, mà đó là thời kỳ Thị tộc phụ đạo, ngôi vị thiên tử được cha truyền con nối nên Lạc Long Quân được gọi là Vua cha. Thiên hạ chia thành các phương, mỗi phương được 1 vị quan chư hầu phụ trách cai quản, nên thời này có Ngũ phương yết đế, hay Ngũ vị Tôn quan.

Thay cho lời cuối, xin dẫn lời của Hồ Tông Thốc trong Việt Nam thế chí: Độc giả nên lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá, thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử, tôi đâu tự dám cho ý mình là thoả đáng.



 


Thursday, March 27, 2025

Vua cha Lạc Long Quân, người khai mở nền văn minh sông Hồng

Vị thủy thần hồ Dâm Đàm là Linh Lang Đại vương, được thờ ở hàng trăm nơi trên khắp các vùng đồng bằng sông Hồng. Sự tích về Linh Lang chung quy có 3 thời, đều về một vị hoàng tử đã có công đánh giặc và gắn liền với địa danh ở hồ Tây. Một là Linh Lang thời Hùng Vương đánh giặc Thục. Hai là Linh Lang thời Lý đánh giặc Vĩnh Trinh. Ba là Linh Lang thời Trần đánh giặc Nguyên Mông.

Một số nơi như ở đình Tây Hồ hay đền Thủ Lệ chép cả 3 sự tích của Linh Lang Đại vương ở 3 thời, gọi là Linh Lang thần hóa lục, và coi đó là 3 lần xuất thế của thần. Thần tích về Uy Linh Lang ở Yên Phụ hay Nhật Tân thì ghi rõ: Vương vốn là chính phái họ Hồng Bàng, là thứ tông của Bách Việt. Đại vương là giống giao long, là trưởng của Xích Giáp, hiệu là Uy Linh Lang, cùng với 6 người được nhận phong ở đó là Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp, Tử Giáp.

7 vị thủy thần hồ Dâm Đàm được thờ đầy đủ tại điện Nhật Chiêu, tức đình Nhật Tân ngày nay, là nơi bọc trứng của bà Diệu Đế Lạc phi nở thành 7 con rồng mà bay lên trời trên bãi sông Hồng. Cái tên Nhật Chiêu xuất phát từ sự tích này, do khi bọc trứng bị bỏ bên bãi sông, đến đêm có ánh sáng chiếu rọi và nghe tiếng vang vào tới tận kinh thành. Lễ hội đình Nhật Tân là một trong những lễ hội lớn nhất Thăng Long, với đoàn rước giá kiệu cùng múa rồng kéo dài từ đình làng qua cung Nhật Chiêu rồi ra đến bờ sông Hồng.

Linh Lang cùng với những người em cùng bọc là thủy thần hồ Dâm Đàm còn được thờ ở một loạt các di tích quanh hồ Tây như Nghi Tàm, Quảng Bá, Yên Phụ, Tây Hồ, Tứ Liên... Câu đối ở đình Quảng Bá nhắc lại sự tích Linh Lang và 6 giáp Tây hồ.

Bách noãn dựng nhất bào, dục tú chung anh long chủng hóa
Đoài hồ linh thất giáp, phong công tuấn đức phượng sơn tề.

Nghĩa là:

Một bầu chứa trăm trứng, dưỡng đẹp đúc anh hóa chủng rồng
Bảy giáp thiêng Tây hồ, công dày đức hậu sánh non phượng.

Vậy Linh Lang Đại vương là ai trong sử Việt?

Lĩnh Nam chích quái, Truyện Hồ Tinh kể: “Long Quân ra lệnh cho Lục bộ thủy phủ dâng nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy...”. Như vậy, Linh Lang cùng 6 giáp Tây hồ chính là Long Quân cùng Lục bộ thủy phủ trong truyện Hồ Tinh.

Sách Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ chép: Miếu Lạc Long nằm ở cách cửa Bắc của kinh thành chính hướng bên ngoài 1 dặm, thuộc vùng ven bờ hồ Trúc Bạch tại thôn Yên Ninh, huyện Vĩnh Thuận... Nay miếu ở trên hồ Trúc Bạch chính là kinh đô xưa của Long Quân vậy. Kinh đô Rồng của cha Lạc Long Quân nằm ở đất Thăng Long, bên bờ hồ Trúc Bạch, xưa là hồ Dâm Đàm (hồ Tây). Đây chính là lý do vì sao hồ Tây là rốn rồng Long Đỗ của lưu vực sông Hồng.

Ngôi miếu Lạc Long bên hồ trước đây thời Pháp mở đường đã chuyển về đầu dốc Hàng Than. Nay ngôi đền này gọi là đền Đức Vua. Trên cổng đền có chữ đề “Bát Hải vọng từ”. Đức Vua cha Bát Hải của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ của người Việt là cha rồng Lạc Long Quân. 

Cũng tại phía Bắc hồ Trúc Bạch có đền An Trì, vốn là đền thờ Uy Linh Lang của phường Yên Phụ, là bằng chứng nữa cho thấy Linh Lang chính là Lạc Long Quân. Chữ Linh tương đương với chữ Lung, tức Long. Chữ Lang vốn là từ chỉ vua của người Việt. Linh Lang do đó nghĩa tương đương là Long Quân.

Linh Lang còn là từ chỉ chung các vị thủy thần thời kỳ Lạc Long Quân vì Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả cho biết những người con theo Lạc Long Quân xuống biển được gọi là các “Thủy thượng Linh thần”.

Ở vùng Bắc Ninh đặc biệt có tín ngưỡng thờ 3 vị Việt Nam Lạc Thị xuất hiện dưới dạng 3 con rồng trên trán có chữ Lạc Vương. Khi đối chiếu trên thực tế thì đó là Kinh Dương Vương (như ở lăng Kinh Dương Vương tại Á Lữ), Lạc Long Quân (như ở làng đúc đồng Đại Bái) và Hùng Vương (như ở đền Bình Ngô). Tương tự như cách thờ 3 vị Hùng Vương Thánh Tổ ở Phú Thọ là Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn, trong dòng xuống biển 3 vị tổ được thờ là 3 vị Việt Nam Lạc Thị.

Các vị thủy thần thời kỳ Lạc Thị (thời lập quốc họ Hùng) không chỉ có Lạc Long Quân. Khi đối chiếu sự tích, di tích và tên thờ ở các nơi thì có thể nhận ra các vị thủy thần đã làm nên Công đồng của Thủy phủ trong tín ngưỡng người Việt. Nhận diện một số nhân vật của Thủy phủ như sau:

- Thần Chính khí Long Đỗ là Động Đình Đế Quân, ông ngoại của Lạc Long Quân.

- Long cung Liễu Nghị là Kinh Dương Vương, cũng là Tản Viên Sơn Thánh của vùng núi Ba Vì.

- Mẫu Thoải là Thần Long Động Đình, mẹ của Lạc Long Quân. Cũng là bà Đỗ Quý Thị Hương Vân Cái Bồ Tát trong dòng ngọc phả Cổ Lôi của tổng Xốm Bình Đà.

- Vua cha Bát Hải Động Đình là Lạc Long Quân.

- Ngũ vị Tôn quan là những người anh em sinh cùng bọc với Long Quân (lục bộ thủy phủ hay Đoài hồ Thất giáp).

- Lãng Nhạc Quý Minh là người chú của Lạc Long Quân, em của Tản Viên Sơn Thánh - Kinh Dương Vương.

Diễn biến lịch sử của thời kỳ này có thể kể như sau. Kinh Dương Vương lên ngôi ở vùng Ngũ hành cung Tản Viên tại Ba Vì (Sơn Tây) đã lấy Thần Long, con của Động Đình Đế Quân ở miền sông biển. Kinh Dương Vương tiếp ngôi của Thánh tổ Đế Nghi theo lối truyền hiền nên khi ông mất định trả lại ngôi vị cho chính dòng Đế Nghi là Đế Lai. Tuy nhiên, con của Kinh Dương Vương là Lạc Long Quân đã không nhường, dựa vào những người anh em Thủy phủ bên ngoại của mình đã đánh đuổi Đế Lai, giành lấy ngôi vị thiên hạ (trong hình ảnh bà Âu Cơ). Các thần tích kể thành chuyện các vị thủy thần giúp vua Hùng (Lạc Long Quân) đánh Thục.

4.000 năm trước Lạc Long Quân giành được ngôi chủ thiên hạ, lập Thủy quốc Động Đình, lấy khu vực hồ Dâm Đàm bên bờ sông Hồng làm kinh đô. Long Quân phân phong cho những người anh em công thần lập quốc phụ trách ngũ phương nơi đầu sông góc biển, trở thành các vị Long hầu của Thủy quốc. Từ đây, lịch sử Việt bắt đầu chế độ cha truyền con nối (Lạc Long Quân kế nối Kinh Dương Vương), gọi vua là Cha, của dòng Lạc thị.

Giai đoạn này bắt đầu từ Kinh Dương Vương nên được gọi là Kinh triều. Kinh triều truyền nhiều đời cha con kế nối nhau làm vua, cho tới thời Hùng Duệ Vương là đời cuối cùng của Kinh triều. Trong gần 1.000 năm của Kinh triều Lạc Thị nhân dân an cư lạc nghiệp, mở mang bờ cõi ven các con sông lớn ở đồng bằng Bắc Bộ, thậm chí phát triển sang cả lên vùng phía Bắc, vượt sông Hoàng Hà, hình thành các nhóm tộc người như người Kinh - Mường, Tày – Thái – Choang, Mông – Dao...

Câu đối ở đền Đồng Bằng thờ Vua cha Bát Hải Động Đình cùng các vị Tôn quan Thoải phủ:

Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.

Nghĩa là:

Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.

Đây cũng là những nội dung chính của cuốn sách Kinh triều bảo lục – Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc Thị do Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền miếu Việt xuất bản năm 2025. Cuốn sách đã phân tích, đối sánh giai đoạn lịch sử Kinh triều Lạc Thị từ các góc độ thời gian, không gian, tín ngưỡng, nhân vật và dân tộc, khái quát thành các sơ đồ lịch sử rõ ràng và súc tích, cũng đồng thời cung cấp các văn bản Hán Nôm từ các di tích còn lưu lại tới ngày nay. Cuốn sách không chỉ là tập hợp những tư liệu di sản văn hóa mà còn mang lại một cách nhìn mới, minh định rõ ràng về thời đại của vua cha Lạc Long Quân cùng những người con xuống biến khai mở ra nền văn minh sông Hồng từ 4.000 năm lịch sử.



Sunday, March 9, 2025

Rắn thần trong văn hóa Việt

Trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, Rồng là loài vật huyền thoại, biểu tượng cho phần tinh thần, chỉ thấy đầu, không thấy đuôi, khó nắm bắt được. Còn Rắn lại là loài vật có thật, chỉ phần thân xác to lớn, mạnh mẽ, có thể nhận biết được. Những gì hiện hiển là Rắn, còn những gì u linh là Rồng. Lúc sinh ra là Rắn, lúc hóa đi thành Rồng. Quan hầu là Rắn, vua chúa là Rồng. 

Xem huyền sử Việt nhiều người cho đó chỉ là những chuyện “trâu ma, rắn thần”, đầy màu sắc thần thoại. Nhưng nếu đọc kỹ hơn, tìm hiểu sâu hơn trong những di sản văn hóa tín ngưỡng của cha ông người Việt để lại, chúng ta sẽ thấy chính những câu chuyện rắn thần đó mới phản ánh lịch sử thật sự của người Việt một cách rất sâu sắc, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan rất phong phú và lâu đời trong văn hóa Việt.

Những vị thủy thần từ thời Lạc Long Quân dựng nước

Dân gian người Việt thờ rất nhiều vị thủy thần trong hình thể loài rắn làm thành hoàng làng. Điển hình nhất là vị Linh Lang Đại vương với hàng trăm nơi thờ ở khắp vùng đồng bằng sông Hồng. Thần tích đình làng Tây Hồ, ở phường Tây Hồ, Hà Nội kể: Uy Linh Lang là thủy thần là con trưởng của Lạc Long Quân theo cha xuống biển trấn trị khai thác sông biển lãnh đạo muôn dân xây dựng cuộc sống phồn thịnh… Thời Lý thần nhân hóa thành Thái tử Hoàng Lang con vua Lý Thái Tông giúp vua đánh giặc Chiêm Thành. Sau đó Thái tử bị bệnh đậu mùa rồi hóa thành con rắn khổng lồ trườn xuống hồ Tây. Vị thần trấn Tây của kinh thành Thăng Long xưa chính là thần rắn xuất thế, có nguồn gốc từ thời vua cha Lạc Long Quân dựng nước ven theo dòng sông Cái ra tới biển.

Các thành hoàng là thần rắn thời Hùng Vương thường được kể sinh ra từ cùng một bọc trứng, nở thành 2, 3 hay 5 con rắn, lớn lên thành tài, bảo hộ cho cuộc sống của nhân dân, phù trợ quốc gia chống giặc ngoại xâm. Như ở đầu sông Cái bên ghềnh Ngọc Tháp, tại TX. Phú Thọ có sự tích về vị thần Linh Uyên Đại vương kể rằng: Bà Thái phi của vua sông Thao một hôm bỏ lốt rắn đi lên rừng chơi, chợt làm rơi một bọc trứng 5 quả ở đấy. Làng ấy có một ông già nhặt lấy 5 quả trứng đem về… Được 3 ngày, nở ra 5 con rắn… Một hôm ông già vô ý lấy con dao phát bờ khoắng một cái, đứt đuôi một con. 5 con rắn quấn quít lấy cái đuôi khóc mà nói rằng:  Chúng ta là giống rồng, trời định cho ta, mỗi người làm vua một phương… Thế là các con rắn chia nhau ra đi làm vua ở các nơi trên sông Thao, sông Lô.

Sự tích rắn thần cụt đuôi còn gặp ở nhiều nơi. Như ở làng Yên Phú (Thanh Trì, Hà Nội) kể về 2 vị thủy thần xuất thế là Trung Vũ và Đài Liệu. Hai vị đã có công cầu mưa cứu hạn, được nhân dân trong vùng Thanh Trì hết sức kính phục. Sự tích truyền khẩu ở Yên Phú còn kể, khi đê ở Giầy Kẻ bị sạt vỡ, 2 vị đã hóa thân thành 2 ông rắn nằm ngăn nước để dân đắp, hộ được đê. Lúc hộ đê một ông bị đứt một tí đuôi, nên có hèm là Cụt.

Chuyện kể tương tự về thần rắn hộ đê gặp ở thôn Văn Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Thần phả kể rằng, vào đời vua Lý Thái Tổ có hai ông bà vớt được hai quả trứng trắng ngoài sông bèn đem về, 100 ngày sau nở ra 2 con rắn trắng, một con dưới bụng có chữ Câu Mang anh, một con có chữ Câu Mang em… Một năm trời làm dịch bệnh, hai ông Câu Mang làm mưa to gió lớn tẩy trừ dịch bệnh cho dân rồi làm ra một cái giếng sâu và đi mất… Cũng năm đó lũ to làm đê vỡ, hai ngài Bạch Xà từ giếng ra, đầu gối bên này, đuôi chạm bên kia nằm chắn khúc đê vỡ để ngăn dòng nước chảy, sau hai ngài lại ra sông đi mất. Quan sở tại tâu lên triều đình, nhà vua phong cho hai ngài là Nhị vị Thủy tề Long vương.

Những vị rắn thần được kể là những nhân vật lịch sử có thật nhờ có công hộ quốc cứu dân mà được tôn làm Long Vương. Như ở suối cá thần Cẩm Lương, Thanh Hóa có đền thờ chàng rắn của người Mường được phong là Tứ phủ Long Vương. Ở xã Thạch Trị huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh có Miếu Ao, thờ Ông Cả Long vương. Sự tích ở miếu ghi: Đức Vương và Thánh Nữ thấy sao băng mà sinh được 3 quả trứng nối liền nhau thành 1 con Hoàng Xà, sau bị Đức Vương chẳng may xắn thành 3 khúc, trở thành 3 anh em.

Trong những câu chuyện trên, vị Đức Vương, hay Ông lão thực ra là vua Kinh Dương Vương trong sử Việt. Thánh Nữ, bà Thái phi, bà mẹ là bà Thần Long. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Đế Quân mà sinh ra Lạc Long Quân. Những người con rắn nở ra từ một bọc trứng ấy là những người anh em với Lạc Long Quân của thủy phủ. Do đó, các vị thủy thần thời này đều là những nhân thần thật sự, có công dựng nước cùng với vua Lạc Long Quân dọc dòng sông Hồng

Rắn thần trong Đạo mẫu Tứ phủ

Sự tích ở đền Đồng Bằng (xã An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình) kể rằng: Nàng Quý đi tắm ở sông Đào, cảm động với giao long mà có  thai, sinh được một bọc, nở ra 3 con Hoàng xà. 3 con rắn sau hóa thành 3 chàng trai giúp vua Hùng đánh giặc. Con Hoàng xà lớn trở thành Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình, tức là vị đức Vua cha Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. Người đứng đầu Thủy phủ thì không ai khác chính là vua cha Lạc Long Quân trong sử Việt.  

Trong thần điện Tứ phủ còn thờ những con rắn thực sự. Nhị vị Xà thần có tên gọi là Thanh Xà Tướng quân và Bạch Xà Tướng quân, chịu trách nhiệm canh gác đền phủ, trấn giữ đường âm, đường sông nước, trừ ma diệt quỷ. Tuy nhiên, việc thờ rắn làm thần khác với việc thờ thành hoàng là thủy thần trong lốt rắn. Những vị Quan Xà không có sự tích riêng, không có đền thờ riêng, không được sắc phong thờ là thành hoàng ở bất cứ nơi nào. 

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ còn có một hình tượng rắn thần đặc biệt khác, danh xưng Tam Đầu Cửu Vĩ. Đó là một thần rắn ba đầu chín đuôi, là thú cưỡi của một số vị Quan như Quan Lớn Đệ Tam, Quan Hoàng Cả… Khác với Thanh Xà và Bạch Xà, Tam đầu Cửu vĩ Long Vương là vị thần có được thờ cúng là thành hoàng ở một số nơi, như ở đình Nam Dư Hạ ở quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tam Đầu Cửu Vĩ là hình tượng hóa của hệ thống sông ngòi cổ ở miền Bắc Việt, nơi 3 sông Đà Lô Thao hội tụ ở ngã ba Bạch Hạc rồi chia thành nhiều nhánh mà đổ ra biển. Rất lạ là trong Sơn Hải kinh, cuốn sách cổ của Trung Hoa từ thời trước Công nguyên cũng có nói đến một loài rắn chín đầu gọi là Tương Liễu thị, là bề tôi của thần nước Cung Công. Hình Tương Liễu thị chín đầu phối hợp với chim Kỳ Đồ ba đầu được thể hiện trên bức họa Ngoại quốc đồ thời Lê Trung Hưng, hiện lưu tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

Lột xác rắn mà thành Tiên

Vương Sung, một nhà triết học Trung Hoa thời đầu Công nguyên nói: “Ve lột vỏ, rắn thay da, rùa bỏ mai, hươu rụng sừng, da vỏ tiêu hết, chỉ giữ lại xương cốt mới có thể thoát xác tái sinh”. Vì thế thân hình rắn ở thời này thể hiện cho các vị tu tiên đắc đạo. Trên các bức bích họa thời Hán, cặp thần tiên tối cổ Nữ Oa – Phục Hy được thể hiện dưới dạng hình người thân rắn, cuộn đuôi vào nhau. Tại khu mộ cổ khổng lồ Nghi Vệ ở Bắc Ninh được khai quật từ thời Pháp đã phát hiện có một chiếc gương thể hiện cặp thần tiên thân rắn. Hình tượng người rắn tương tự còn gặp trên những tấm lụa phủ liệm quan tài cùng thời kỳ.

Hình tiên thân rắn còn gặp trên bức chạm ở một ngôi đình nổi tiếng xứ Đoài Hà Tây xưa là đình Tây Đằng. Bên mé hữu của đình trên xà ngang có bức chạm 2 vị tiên cầm hoa sen với thân rắn dài, có vảy. Hai vị tiên này đứng chầu vào giữa, là nơi có 2 vị tiên khác, một đang ôm rắn và một đang ôm cá.

Trong Tiên đạo, rắn còn kết hợp với rùa tạo thành linh vật Huyền vũ, một trong tứ linh, trấn phương Bắc. Linh vật Huyền vũ thường được thể hiện trên các gương đồng từ thời Đông Hán. Cặp Rắn – Rùa là biểu tượng của Âm – Dương kết hợp trong Đạo giáo, gặp trong những nơi thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ như ở đền Quan Thánh (trấn Bắc của Thăng Long Hà Nội), hay ở đền Sái (Cổ Loa). Tượng thần Huyền Thiên được thể hiện tay cầm kiếm có Rắn quấn quanh và chống lên lưng Rùa. 

Rắn Naga giác ngộ và bảo hộ Phật đạo

Rắn thần trong Phật giáo được gọi là Rắn Naga, là vị Mãng xà vương đã che chở cho Đức Phật khi tu dưới gốc bồ đề trong mưa bão. Tượng Phật của người Khơ me thường được thể hiện ngồi trên thân rắn và được rắn thần 9 đầu che chở. Ở miền Bắc hình tượng này chuyển biến thành tượng Thích Ca sơ sinh có 9 con rồng đến phun nước tắm.

Ở thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, Bắc Ninh đã phát hiện một bức tượng rắn bằng đá rất lạ, thể hiện hình ảnh ông Rắn đang tự cắn xé thân thể. Đây có thể là một biểu tượng trong Phật giáo, lấy từ điển tích rắn độc khi đã giác ngộ thì căm ghét thân hình xấu xa của mình, từ bỏ thân rắn mà được đắc lên cõi trời Đao Lợi hoặc thành A La Hán, tôn giả… 

Vua rắn Vương Kinh tử ở Giếng Việt

Ấn tượng về “Rắn thần” trong Lĩnh Nam chích quái là Truyện Giếng Việt. Giếng Việt ở miền Châu Sơn (Bắc Ninh), Thánh Dóng đánh thắng giặc Ân ở chân núi này. Vua Ân chết thành vua Địa phủ, có đền thờ trên núi. Đến cuối thời Tần, có người là Thôi Vĩ chạy lạc vào núi, rơi xuống hang sâu, gặp một con rắn trắng mình dài trăm trượng, mào vàng, miệng đỏ, râu đỏ, vảy trắng, trên trán có dòng chữ vàng đề “Vương Kinh Tử”. Thôi Vĩ dùng thuốc ngải chữa bệnh bướu cổ cho rắn, nên được rắn dẫn khỏi hang…. Ở Châu Sơn tới nay vẫn còn một bức tượng đá cổ, kích thước cao bằng người thật, thể hiện con vật thân như thân rồng rắn nhưng có mỏ và cánh như chim phượng, là dấu vết cổ xưa của một ngôi đền thời Tần Hán tại đây.

Câu chuyện về rắn thần từ thuở Lạc Thị Hồng Bàng qua thời Ân Thương tới thời Tần Hán, với những di vật bằng đá còn sống động nơi núi Châu Sơn, là minh chứng cho tín ngưỡng thờ Rắn thần không phải là mê tín dị đoan, mà chính là hình thức rất độc đáo lưu giữ lịch sử huy hoàng và lâu đời của người Việt. Trong tâm linh Việt, rắn thần là những người con đã theo cha Lạc Long Quân đi khai phá miền sông nước biển Đông, là tổ tiên của 50 họ người Việt. Sự thật về quá khứ người Việt vẫn còn ẩn mình trong hang tối như rắn thần Kinh Vương Tử nơi Giếng Việt xưa.

Bài đăng trên Tạp chí Năng lượng mới, số Xuân Ất Tỵ 2025.