Showing posts with label Nhà Triệu Nam Việt. Show all posts
Showing posts with label Nhà Triệu Nam Việt. Show all posts

Thursday, March 5, 2026

Bạn có biết: Có 3 vị Triệu Đà đều là các đời Hùng Vương nước Việt

 Đại Việt sử ký toàn thư chép: Triệu Vũ Đế ở ngôi bẩy mươi mốt (71) năm, thọ một trăm hai mươi mốt (121) tuổi. Với tuổi thọ xưa nay… không hề có này thì chắc chắn rằng kỷ Vũ Đế nhà Triệu không phải chỉ có 1 vị vua Triệu Đà. Khảo chứng các tư liệu từ các góc độ khác nhau cho phép nhận ra có tới 3 nhân vật đều được gọi là Triệu Đà và cả 3 đều là các đời Hùng Vương kế tiếp nhau trong một giai đoạn lịch sử bản lề của người Việt.

Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng thuộc xã Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Tần Vương đánh Thục, xây thành Cổ Loa

Tấm bia thời Lê năm Chính Hòa thứ 10 (1689) có tên “Chính Pháp điện thạch bi” ở đền Thượng Cổ Loa chép: Đại Việt suy tôn An Dương Vương là hoàng đế, khởi từ đất Ba Thục, định đô ở Phong Khê, lấy nỏ rùa thần đuổi quân Tần, xây thành trì mà cố thủ, ngàn dặm nhập vào nước Âu Lạc ta. Theo tấm bia này thì việc An Dương Vương đã dùng nỏ thần là để chống lại quân Tần, chứ không phải Triệu Đà như thường kể. Vậy Triệu Đà trong truyền thuyết thực ra là chỉ quân Tần vì nhà Tần vốn mang họ Triệu. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, thủy tổ của Tần là Tạo Phụ đánh xe cho Chu Mục Vương và được phong đất ở Triệu thành, từ đó lấy tên đất làm họ.

Ở am thờ công chúa Mỵ Châu trong Cổ Loa trên bảng gỗ có khắc một bài thơ cổ, có đoạn thơ được dịch giả Đỗ Văn Hỷ dịch như sau:
Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai?
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài.
Điều lạ là bài thơ gọi mối tình của Mỵ Châu và Trọng Thủy là “Tần Việt nhân duyên”. Công chúa Mỵ Châu là Việt thì đã rõ. Như thế, còn lại Trọng Thủy phải là hoàng tử của vua Tần, họ Triệu.

Câu chuyện tình ngang trái Mỵ Châu – Trọng Thủy kể về sự kết thúc của nhà Thục bởi sự tấn công bất ngờ của quân Tần. An Dương Vương từng xây thành đắp lũy để chống Tần, nhưng cuối cùng cơ đồ đã mất. Tần chiếm được thành Cổ Loa, kinh đô phồn hoa bậc nhất khu vực phương Nam khi đó.

Báo cáo khảo cổ thành Cổ Loa cho biết, các bức thành chính được xây ở quãng thế kỷ thứ III TCN chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu đắp bằng cách đổ đất. Giai đoạn sau là áp dụng “công nghệ” nện đất, tương tự với kỹ thuật đắp thành ở phương Bắc khi đó. Với lớp đắp ở thành Trung cao tới 2,5m, rộng 24 m, các nhà khảo cổ đã tính toán lượng khối lượng đất đá cần khai thác, vận chuyển lên đến hàng triệu mét khối. Lượng nhân công huy động cho đắp thành lên tới hàng vạn người làm việc liên tục trong 3 năm. Vậy nếu lớp thành đầu được xây bởi An Dương Vương thì lớp thành tiếp theo phải là do nhà Tần xây dựng. Chỉ có nhà Tần vào giữa thế kỷ thứ III TCN mới đủ tiềm lực, nhân lực để xây nên tòa thành lớn nhất Đông Nam Á này.

Trong đền Thượng Cổ Loa có ban thờ quan Tứ trụ triều đình. Một trong 4 vị tứ trụ này là Hữu Thừa tướng Lý Ông Trọng. Đức thánh Chèm Lý Ông Trọng được biết rõ là một đại tướng của nhà Tần, lấy con gái của Tần Thủy Hoàng là Bạch Tĩnh Cung công chúa và được cử đi trấn thủ người Hồ ở đất Lâm Thao. Xem vậy thì người đã trấn thủ Loa thành dưới thời Tần, không ai khác chính là Lý Thân, phò mã của Tần Thủy Hoàng.

Đình làng Đình Vỹ, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm thờ vị thần là Quý Minh Đại vương, mà theo thần tích ở đây chính là Trọng Thủy, con của Triệu Đà. Làng Đình Vỹ cùng với các làng Đa Vạn, Song Tháp, phường Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh gần đó thờ Triệu Vũ Đế và có chung bản thần tích có tên là Ký sự đền linh họ Triệu. Câu chuyện bi thương Trọng Thủy – Mỵ Châu bên thành Cổ Loa được ghi chép theo một cách khác lạ, chưa từng được biết trong thần tích này:

Vương rút kiếm chém Mỵ Châu, rồi theo Kim Quy mà đi. Sau vài tháng Trọng Thủy, Trương Hống, Trương Hát dẫn quân đuổi tới cửa Biện, thấy thi thể Mỵ Châu đeo một chiếc túi, hai chiếc thoa vàng, đúng là tích vật. Trọng Thủy cầm túi mà khóc, tình vợ chồng từ nay ly biệt. Rồi ôm Mỵ Châu trở về thành Ốc, an táng ở núi Yên Phụ. Tháng 4 vào đầu giờ Dần ngày mồng 5, lấy dao trúc mà giết Ngỗng tế Mỵ Nương. Do cảm động nghĩa tử thê lương, người dân Yên Phụ đắp một mộ phần phụng sự. Đến xã Nội Trà ngày 10 tháng 4 nằm mộng mà chết. Dân Nội Trà cũng đắp một mộ phần. Nhân dân phụng sự đem về thành Ốc an táng thành mộ phần. Tới tháng 6 ngày 10, thấy bóng hình Mỵ Châu ở trên giếng, thấy Toán tâm tính mất hết mà đi ra. Toán quay đầu muốn đuổi theo ôm lấy bóng hình mà không được, rơi xuống đáy giếng mà chết.

Như đã nhận định ở trên, Trọng Thủy là vương tử của nhà Tần Triệu thời kỳ đầu, khi đánh An Dương Vương ở thành Cổ Loa. Con của Trọng Thủy là Triệu Lạc Linh lên ngôi xưng Đế, tương ứng là Tần Thủy Hoàng Đế. Còn phần chép về Triệu Đà trong Ký sự đền linh họ Triệu lại là chuyện của Triệu Vũ Đế thời kỳ Tần mạt.

Chính pháp điện bi ký ở đền Thượng Cổ Loa.

Long Hưng Triệu Vũ Đế khởi nghĩa kháng Tần

Đền Đồng Sâm có lưu bản thần tích, ghi là thần tích xã Thượng Gia, tổng Đồng Sâm. Theo như ghi chép trong đó thì thần tích Thượng Gia đã được các cụ bô lão ở địa phương sưu tầm từ nhà quan Thượng thư bộ Lễ ở Vĩnh Phúc, kết hợp với các nguồn sử sách có được mà biên soạn nên. Đồng Sâm là nơi thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu, tương truyền đây là nơi hai người gặp gỡ trên đất quê của Hoàng hậu Trình Thị.

Câu đối ở đền Đồng Sâm:
炎郊創始與圖保龍父僊母之子孫同大漢時雙帝國
戚里屹成宫闕萃茶海桐江之靈秀亦潘隅外弌神京
Viêm Giao sáng thủy dư đồ, bảo long phụ tiên mẫu chi tử tôn, đồng đại Hán thời song đế quốc
Thích lý ngật thành cung khuyết, tụy Trà hải Đồng giang chi linh tú, diệc Phan Ngung ngoại nhất thần kinh.
Nghĩa là:
Khởi sáng cơ đồ chốn Viêm Giao, cha Rồng mẹ Tiên che chở cháu con, ngang thời nhà Hán hai đế quốc
Lập nên cung quán nơi quê ngoại, sông Vông biển Trà tụ họp linh tú, cùng ngoài Phiên Ngung một kinh thành.

Thần tích Thượng Gia kể: Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi). Tiếp đó thần tích kể Triệu Đà đi đến trang Đường Sâm, lấy nàng Lan con gái họ Trình ở đây, sinh ra Trọng Thủy. Triệu Đà cho lập hành cung tại Đường Sâm, sau này là nơi thờ tự Triệu Đà và Hoàng hậu Trình Thị.

Nguyên văn chữ Nho của đoạn kể trên về Triệu Đà: “Đế vi Long Xuyên lệnh (tức Nam Hải huyện), lĩnh trích đồ thú Ngũ Lĩnh”. Đoạn thông tin này bị hiểu là Triệu Đà dẫn đám dân đi lính thú của nhà Tần tấn công nước Việt. Nhưng đọc kỹ thì không phải vậy. Hiểu chính xác phải là Triệu Đà được cử làm huyện lệnh Long Xuyên, cũng là huyện Nam Hải. Triệu Đà nhận lĩnh việc đưa những người phu dịch (“đồ”) đến vùng Ngũ Lĩnh. Làm gì có chuyện những người có tội bị biếm trích lại là quân lính để tấn công phương Nam. Đây là việc nhà Tần tăng cường nhân công cho việc xây dựng ở nước Nam, tương tự việc phu dịch xây Vạn lý trường thành ở phía Bắc. Triệu Đà là một lệnh trưởng chịu trách nhiệm dẫn dân phu đến vùng núi Ngũ Lĩnh.

Đoạn trích trên cũng cho biết, Triệu Đà đi đến vùng đất Thái Bình (Đồng Sâm), rồi lấy vợ, sinh con, còn lập cả hành cung (dựng nhà để ở) tại đó. Vậy là Thái Bình hay vùng Bắc Việt lúc này đã nằm trong lãnh thổ của nhà Tần thì Triệu Đà mới có thể ngụ cư, làm huyện lệnh và dẫn dân phu đi đến đó.

Đền Đồng Sâm là đền chính được nhiều nơi trong vùng tham gia phụng sự như: thôn Đa Cốc, xã Thanh Bình; thôn Đồng Sâm, xã Hồng Thái; xã Quốc Tuấn. Ngoài ra còn có làng Đông Thổ, xã Lê Lợi nay vẫn còn nhiều sắc phong cho Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng Hậu. Ngoài huyện Kiến Xương thì khu huyện Hưng Hà, thôn Quan Hà, xã Cộng Hòa có di tích thờ cả Triệu Vũ Đế và Triệu Việt Vương. Bên huyện Thái Thụy có di tích thôn Tuấn Nghĩa, xã Thái Thành và thôn Cam Đoài, xã Thụy Liên thờ Triệu Đà. Hiện chùa Cam Đoài vẫn lưu giữ được sắc phong và bài vị cổ thờ Triệu Đà.

Câu đối của Nguyễn Công Trứ đề ở đền Đồng Sâm:
當年戈馬低刘項
自昔山河截北南
Đương niên qua mã đê Lưu Hạng
Tự tích sơn hà triệt Bắc Nam.
Nghĩa là:
Đang thời giáo ngựa khinh Lưu Hạng
Từ đó non sông tách Bắc Nam.
Câu đối này cho biết Triệu Vũ Đế nổi lên cùng thời với Lưu Bang và Hạng Vũ, tức là khởi nghĩa chống Tần mà lập quốc.

Sử ký Tư Mã ThiênTần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đó canh giữ.

Sách Hoài Nam tử cho biết tiếp: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.

Người Tuấn kiệt” lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi của dân Âu Lạc là ai? Các sử gia đời nay cho rằng đó là Thục Phán. Nhưng năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đã đánh chiếm vùng đất Việt, lập quận huyện đầy đủ, còn đâu nước nào nữa mà có Thục An Dương Vương? Nếu An Dương Vương là người kháng Tần những năm 216 – 207 TCN, thì Tần đã đánh ai ở đất Lục Lương năm 216 TCN?

Dịch Hu Tống có thể đọc thành Dịch Hậu Tông, nghĩa là dòng dõi cuối cùng của Dịch Vương. Dịch Vương là Chu Văn Vương, người đã viết Kinh Dịch, mở đầu vương triều Chu của Trung Hoa. Dịch Hu Tống, dòng dõi cuối cùng của nhà Chu là Chu Noãn Vương, đã bị Tần diệt năm 256 TCN ở đất Âu Lạc. Vương triều Chu Thục như vậy đã kết thúc năm 256 TCN, nên người lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần không phải là dòng dõi vua Thục.

So sánh thời gian này với hành trạng của Triệu Đà. Triệu Đà làm huyện lệnh Long Xuyên, rồi được Nhâm Hiêu trao lại quyền cai quản ở Nam Hải. Tiếp theo Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN] (Tần Nhị Thế năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương.

Triệu Đà chứ không phải ai khác vào năm 207 TCN đã chiếm lại 3 quận Quế Lâm (hoặc Lâm Ấp), Tượng Quận và Nam Hải mà Tần thành lập trên đất Việt năm 216 TCN. Vì vậy Triệu Đà mới là “người Tuấn kiệt” đã lãnh đạo nhân dân Âu Lạc kháng Tần thắng lợi được nhắc đến trong sách Hoài Nam tử.

Sách Hoài Nam Tử ghi: [Nhà Tần] sai Úy Đà Đồ Thư đem lâu thuyền xuống Nam đánh Bách Việt… Làm sao Đồ Thư lại là Triệu Đà được? Đúng hơn phải hiểu: Đà = Đầu = Đô. “Úy Đà Đồ Thư” nghĩa là Đô úy Đồ Thư. Úy Đà là chức vụ chứ không phải tên riêng. Như vậy Triệu Đà có nghĩa là vua Triệu đầu, không phải tên thật của Triệu Vũ Đế. Càng không phải Triệu Đà đã cùng Đồ Thư dẫn quân Tần đánh Bách Việt.

Một tư liệu khác nói về Triệu Đà là lời trăn trối của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn với vua Trần Anh Tông khi nhà vua hỏi kế sách đối phó với giặc phương Bắc. Hưng Đạo Vương tâu rằng: “Nước ta thuở xưa, Triệu Vũ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Vũ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Trường Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời…“.

Lời kể của Hưng Đạo Vương về hành trạng Triệu Vũ Đế xét kỹ thì thấy không giống gì với chính sử hiện nay. Triệu Đà khởi nghiệp ở Nam Hải tại Quảng Đông thì còn mang đại quân sang “châu Khâm, châu Liêm” đánh chiếm làm gì nữa? Kỳ lạ hơn, Triệu Đà còn dùng kế vườn không nhà trống và lối đánh “du kích”, dùng đoản binh để chống giặc phương Bắc. Nhà Hán có tấn công chiếm lãnh thổ Nam Việt thời Triệu Đà lúc nào đâu mà phải bỏ cả ruộng đồng để đánh du kích? Lời kể của Trần Hưng Đạo chỉ có thể hiểu được nếu Triệu Đà chính là người đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần, bắt đầu từ huyện Long Xuyên (Long Biên) rồi mới tiến sang chiếm châu Khâm, châu Liêm và các quận khác. Lối đánh vườn không nhà trống, dùng đoản binh của Triệu Vũ Đế được Trần Hưng Đạo noi theo là cách người Việt bỏ vào rừng, ngày trốn, đêm ra đánh Tần như Hoài Nam tử đã kể.

Chuyện người Tuấn kiệt chống Tần rất giống chuyện của Hiếu Cao Tổ Lưu Bang trong Hoa sử. Sử ký Tư Mã ThiênCao Tổ bản kỷ cho biết Lưu Bang vốn là một đình trưởng nhỏ ở đất Bái, khi thay mặt huyện đưa những người bị đày đến Lịch Sơn, giữa đường nhiều người bỏ trốn. Lưu Bang tự xét đến nơi thì tất cả đều sẽ trốn hết, cho nên khi đến cái đầm ở phía Tây ấp Phong thì dừng lại, đang đêm, thả tất cả những người bị đày ra rồi cùng họ vào núi Mang Đường trốn tránh.

Việc đưa những người đi đày cũng trùng với thời điểm năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn dời từ quận Tam Xuyên sang 2 quận lân cận. Sự kiện Lưu Bang thả dân phu giữa đường áp giải và bắt đầu cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Tần có thể tính từ năm này.

Thần tích Thượng Gia kể: Năm thứ 50 đời An Dương Vương (Tần Nhị Thế năm thứ 2), Nhâm Hiêu bệnh nguy kịch nói với Đế rằng: “Nghe nói bọn Trần Thắng làm loạn, lòng dân chưa biết theo ai. Đất này là nơi hẻo lánh, ta sợ bọn giặc xâm phạm đến đây nên muốn cắt đường mà tự phòng bị (là nơi Tần mở đường qua Việt), đợi xem các nước chư hầu biến động ra sao. Nhà Tần đã mở một con đường độc đạo để đi sang Việt. Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng thường “Đông du”.

Thần tích Thượng Gia kể tiếp: Đến khi bệnh nguy cấp Nhâm Hiêu nói: “Đất Phiên Ngung dựa núi cách sông, Đông Tây mỗi chiều dài mấy nghìn dặm, lại có người Tần giúp đỡ, nên cũng đủ để dựng nước hưng vương, làm chủ một phương. Các vị trưởng sử trong quận không ai có thể bàn được, chi nên phải triệu ông đến bảo”. Nhân đó cho Đế thay mình. Nhâm Hiêu mất, Đế lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng: “Quân giặc đã đến. Các quân binh cắt đường tự thủ”. Hịch truyền đến các châu huyện đều hưởng ứng theo. Thế rồi giết hết các trưởng sử do Tần cắt đặt, thay bằng những người bạn bè thân thích của mình cai quản. Rồi phát binh đánh Thục Vương.

Đoạn thần tích này nói Triệu Đà đã tiếp ý của Nhâm Hiêu, loại bỏ các quan của Tần ở trong quận, nhưng lại “phát binh đánh Thục Vương”. Đã giết các trưởng sử của Tần thì phải phát binh đánh Tần mới đúng. Tất cả sự trùng hợp về không gian, sự kiện nêu trên cho thấy Thục Vương trong chuyện Triệu Đà là chỉ nhà Tần. Người đã khởi nghĩa kháng Tần trên đất Việt không phải ai khác chính là Triệu Đà.

Về núi Trâu Sơn Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể: Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang. Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức Ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu… Sau các tướng Nhâm Hiêu, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam, đóng quân ở núi này.

Truyện kể Thôi Vỹ là con Thôi Lượng sau khi chữa bệnh cho Nhâm Hiêu, ngã xuống hang tại núi Trâu Sơn, lạc vào Ân Vương thành, được Ân hậu tiếp đãi tiệc rượu… Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Hiêu đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”. Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương trên núi Trâu Sơn. Đoạn trích này là dữ liệu cho biết khu vực núi Trâu Sơn từng có chùa thờ Triệu Việt Vương, tức là thờ Triệu Đà.

Dấu vết thờ Triệu Vũ Đế ở Bắc Ninh còn lưu giữ ở 2 khu vực. Một là ở 2 làng Song Tháp và Đa Vạn ở thị xã Từ Sơn. Hai là ở 6 làng thuộc huyện Quế Võ là Hữu Bằng, Cựu Tự, Kim Sơn, Long Khê (xã Ngọc Xá), Châu Cầu, Thất Gian (xã Châu Phong). Các ngôi đình của 6 làng này trước đây thờ Triệu Vũ Đế làm thành hoàng làng, nay đều đã không còn. Duy nhất ở chùa Hữu Bằng (Ngọc Xá, Quế Võ) còn giữ được một bức tượng gỗ Triệu Vũ Đế, tuy đã bị hư hỏng khá nặng.

Thông tin về di tích thờ Triệu Đà ở Bắc Ninh như trên thoạt xem tưởng không có gì quan trọng so với các khu vực khác thờ Triệu Đà là Thái Bình (đền Đồng Sâm) hay Hưng Yên (đình Xuân Quan), nhưng đây lại thực là thông tin quý giá và mới mẻ về công nghiệp của Triệu Vũ Đế ở nước ta. Tại sao khu vực huyện Quế Võ lại từng có đậm đặc tục thờ Triệu Vũ Đế như vậy? Nơi này gắn với công nghiệp của vị đế vương đầu tiên của nước Nam Việt như thế nào?

Trước hết cần nhận ra rằng khu vực huyện Quế Võ (Bắc Ninh) chính là địa danh Vũ Ninh với núi Trâu Sơn, là địa danh hay được nhắc tới trong truyền thuyết Việt. Trâu Sơn nay gọi thành Châu (Châu Phong, Châu Cầu), nằm gần khu vực Lục Đầu Giang, trên tuyến đường quốc lộ 18 ngày nay. Đây là địa bàn rất thuận tiện cho việc giao thông cả thủy lẫn bộ, lại có núi đồi và sông nước, khá hiểm trở dễ cho việc ẩn náu, phòng thủ, tiến lui.

Cũng Truyện Giếng Việt như trên cho biết Trâu Sơn là nơi mà hai tướng Nhâm Hiêu và Triệu Đà đã đóng quân vào thời Tần. Nhiều thần tích khác cũng kể về việc Triệu Đà khi đánh nước Âu Lạc đã từng đóng quân ở Vũ Ninh. Như vậy nguyên do của tục thờ Triệu Đà ở đây là vì nơi đây từng là một nơi đồn quân quan trọng của Triệu Vũ Đế.

Tuy nhiên, vấn đề khó lý giải ở chỗ là nếu chỉ chiếu theo chính sử thì Triệu Đà chưa từng sang miền Bắc nước ta bao giờ. Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (ở Quảng Tây?), thay Nhâm Hiêu ở Nam Hải (Quảng Đông?), rồi chiếm Quế Lâm, Tượng Quận lập nên nước Nam Việt. Mãi tới sau khi Cao Hậu nhà Hán mất, Triệu Đà mới “nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Sử ký Tư Mã Thiên). Vậy tại sao lại có nhiều di tích của Triệu Đà ở Bắc Việt như vậy? Triệu Đà lấy vợ ở Thái Bình khi nào? Đóng quân ở Bắc Ninh khi nào? Thấy rồng bay lên ở Long Biên khi nào?

Di tích và tư liệu dân gian rõ ràng nói những điều khác so với cách giải thích của chính sử ngày nay về Triệu Đà. Những địa danh và những câu chuyện về thời khởi nghĩa của Triệu Đà đều nằm ở Bắc Việt. Nói cách khác, Triệu Đà vốn khởi nghĩa ở miền đồng bằng sông Hồng, chống lại nhà Tần. Đây là cuộc khởi nghĩa của người Việt kháng Tần như sách Hoài Nam tử đã chép.“Người Tuấn kiệt” được nói tới là Triệu Đà, chứ không phải An Dương Vương như sự “tưởng tượng” của các sử gia ngày nay. “Quân trưởng Tây Âu” đã bị giết rồi, làm gì còn An Dương Vương nào lúc này nữa.

Chuyện người Việt bỏ vào rừng, “đánh du kích” chống quân Tần là lời giải cho tục thờ Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn. Trâu Sơn là điểm đóng quân phòng thủ rất thuận lợi như đã nói ở trên, là nơi mà Triệu Đà đã cầm đầu người Việt dựa vào thế sông núi vùng Lục đầu giang mà chống Tần.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: … (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33) nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh. Quận Tam Xuyên thời Tần vốn là đất của Đông Chu đã bị gộp chung thành quận Nam Hải. Tam Xuyên còn gọi là Long Xuyên vì hai chữ Tam và Long dùng đổi cho nhau, Tam là con số 3 chỉ phương Đông, phương của Rồng trong Dịch học.

Nhâm Hiêu được nhà Tần bổ làm quan ở quận Long Xuyên chứ không phải Nam Hải. Dẫn chứng rõ ràng là Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái: … khi Tần Thủy Hoàng bổ Nhâm Hiêu làm quan lệnh Long Xuyên, Nhâm Hiêu cấm không được nạp lễ người sống, thần Xương Cuồng tức giận vật chết Nhâm Hiêu. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái cũng xác định thêm điều này. Thôi Vỹ chữa bệnh cho Nhâm Hiêu rồi bị ngã xuống hang tại vùng Vũ Ninh. Nhâm Hiêu không thể ở đâu xa ngoài vùng đất Long Biên – Bắc Ninh ngày nay.

Triệu Đà làm quan của huyện Long Xuyên và được Nhâm Hiêu trao lại quyền hành. Như vậy Nhâm Hiêu là quan tiền nhiệm của Triệu Đà ở Long Xuyên. Có thế thì việc Nhâm Hiêu trao quyền cho Triệu Đà mới hợp lẽ. Nếu Nhâm Hiêu ở Nam Hải, Triệu Đà ở Long Xuyên thì làm sao mà trao quyền được? Tại sao Nhâm Hiêu trao quyền lại cho Triệu Đà? Vì sao mà quan của một quận lớn lại dễ dàng từ bỏ chức vụ quyền hành cho người khác? Lý do việc này đã được Sử ký Tư Mã Thiên chép trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện:

Nhâm Hiêu, ốm sắp chết, mời huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà đến nói:
– Tôi nghe bọn Trần Thắng làm loạn. Nhà Tần làm điều vô đạo, thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng Vũ, Lưu Quý, Trần Thắng, Ngô Quảng đều dấy binh tụ tập quân sĩ, tranh giành thiên hạ. Trung Quốc loạn lạc chưa biết lúc nào yên. Những người hào kiệt phản Tần đều đứng lên cả. Nam Hải ở nơi xa lánh, tôi sợ quân giặc xâm lấn đến đây, nên định dấy binh chặn đứt con đường mới để tự phòng bị, đợi chư hầu có sự thay đổi.

Nhâm Hiêu ốm sắp chết thì còn quan tâm chuyện thiên hạ làm gì? Nguyên nhân sâu xa của việc mời Triệu Đà đến là Nhâm Hiêu thấy thiên hạ nổi lên chống Tần khắp nơi, sợ hại đến mình, muốn “tự phòng bị” nên gọi Triệu Đà đến để gánh đỡ gánh nặng này.

Nhâm Hiêu khi nói với Triệu Đà có đề cập đến việc “chặn đứt con đường mới”. Đây là con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở (Tần Thủy Hoàng bản kỷ)Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở đi ra biển là qua quận Nam Hải, nơi Nhâm Hiêu và Triệu Đà sau đó cai quản. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng đã đi tuần thú ở phía Đông năm thứ 37 (211 TCN): lên Cối Kê tế vua Vũ, nhìn ra biển Nam Hải dựng đá khắc công đức nhà Tần.

Nhâm Hiêu không ốm chết mà… bị thần Xương Cuồng tức giận “vật chết”. Viên huyện lệnh Long Xuyên là Nhâm Hiêu đã bị nhân dân Long Xuyên nổi dậy giết, rồi họ tôn Triệu Đà lên làm thủ lĩnh, vì ai cũng sợ kháng Tần không thành công, phải chịu hậu quả.

Nơi Triệu Đà bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần là Long Xuyên. Long Xuyên hay Long Biên chỉ là 2 cách đọc khác nhau của quận Tam Xuyên thời Tần. Theo dịch học thì số 3 (Tam) là chỉ phương Đông, tượng trưng bởi con rồng. Long Biên ngày nay là nơi có điện Long Hưng thờ Triệu Vũ Đế ở làng Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam dựa vào các tư liệu cũ chép sự tích đền Long Hưng như sau: Triệu Đà người huyện Chân Định, đầu thời Tần làm quan lệnh Long Châu, sau làm Nam Hải úy. Đến đời Hán được phong làm Nam Việt Vương. Triệu Đà cho con cầu hôn nhà Thục để lấy bí mật nỏ thần, nhân đó diệt nhà Thục lập ra nhà Triệu. Tương truyền Triệu Đà đi tuần phương Nam qua xã Nam Quan thấy có rồng vàng hiện ra, cho là đất lành bèn dựng hành cung, gọi là điện Long Hưng. Về sau dân dựng đền thờ trên nền điện cũ. Triệu Đà là thấy rồng vàng bay lên ở Long Hưng, bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần. Rồng bay lên là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, chỉ việc thành nghiệp của bậc đế vương.

Theo Thiên Nam ngữ lục thì Triệu Đà khi tiến quân từ Quảng Đông đánh An Dương Vương đã thấy rồng xuất hiện trên sông Nhị Hà:
Binh phân chi dực hữu chi
Triệu thuyền thẳng tới đỗ kề bên sông
Bỗng đâu thấy rồng nổi lên
Dự mừng thánh chúa lập nên cơ đồ.

Khi họ Triệu diệt được An Dương Vương, xưng vua thì do đó mà đổi tên thành Thăng Long:
Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.
Có thể thấy khả năng tên thành Thăng Long là do Triệu Vũ Đế đã đặt cho vùng đất quanh Hà Nội ngày nay, với trung tâm ở khu vực ven sông Hồng thuộc Gia Lâm – Văn Giang.

Câu đối ở điện Long Hưng (Xuân Quan, Long Biên, Hà Nội) khẳng định Triệu Vũ Đế tiếp nối thời Hùng Vương:
拔地巍崔芳蹟不随秦漢去
冲天砥柱英標長揭貉雄來
Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ
Xung thiên để trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai.
Nghĩa là:
Bạt đất cao lồng, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán
Động trời cột ngọc, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

Đền Đồng Sâm ở xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu trên quê ngoại.

Triệu Việt Vương lập quốc Nam Việt

Thần tích xã Hạ Mạo, Phú Thọ: Xưa Hùng Vương đời thứ 17 là Hùng Huy Vương sinh người con trai thứ tên là Hùng Ánh. Hùng Ánh thiên tư dũng lược, diện mạo lạ thường, thông minh nhanh hiểu biết, vượt trội hơn người anh. Huy Vương yêu quý muôn lập làm người nối ngôi. Chàng Ánh cố gắng nhường cho anh. Khi ấy phong tục còn chất phác. Các con vua đều gọi là quan chàng, cho nên có tên là quan Chàng Ánh. Đến khi Duệ Vương nối ngôi, phong Chàng Ánh làm Vương tử, ban cho họ Lê.

Khi giặc Thục đến xâm lăng, Chàng Ánh chỉ huy quân binh, có công chống Thục. Từ đó Chàng Ánh nắm quyền triều chính. Duệ Vương về sau trở nên biếng nhác, chìm đắm trong hoan lạc, không quan tâm đến chính sự, việc binh quốc gia buông lỏng. Chàng Ánh hết sức can ngăn nhưng Duệ Vương không nghe. Chán ngán, Chàng Ánh đi ra bộ ngoài, không muốn tham dự vào chính sự quốc gia. Sau giặc Thục đánh Duệ Vương, thế nước nhà Hùng mất. Chàng Ánh rất hận mới luyện binh tuyển tướng, cẩn thận giữ gìn cương giới, bèn tự xưng là Hậu Hùng Vương, không thần phục An Dương Vương. Xưng là nước Việt Tây, nay là Quảng Tây.

Vợ vương là con gái Đông Chu Quân có mang 3 năm, sinh một bầu năm con trai vào giờ Ngọ ngày 14 tháng 3 năm Mậu Thân. Đến khi trưởng thành đều có tướng mạo khác thường, mũi cao, mắt xếch. Một người trên đầu có 7 chấm đỏ, sau lưng có 27 nốt ruồi đen. Một người một tay dài quá gối, mắt xếch tới tai. Một người mắt phượng mũi rồng. Một người mặt vuông tai to, râu đen, tóc xanh, thân dài 10 thước. Năm chàng đều là những người phi thường. Hùng Vương rất vui mừng, hoàng hậu chưa đặt tên nên nhân theo cổ tục khi đó đặt là Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Chàng Tư, Chàng Út mà gọi.

Gặp lúc có tướng Tần Triệu Đà dẫn quân chiếm phương Nam. An Dương Vương có nỏ thần, quân Triệu gặp nhiều thất bại. Hùng Vương (tức là Chàng Ánh, Hậu Hùng Vương ở Việt Tây) sai Chàng Hai đến quân Tần nói với Triệu Đà rằng:
– An Dương có thù với chúng tôi. Nay phụng nghe đại quân đánh Thục, nước tôi tuy nhỏ cũng xin dẫn ba ngàn quân trợ giúp. Tôi vì báo thù mà trợ giúp ngài định quốc..

Đà bèn cử sứ về nước sai con trai Trọng đến thông hiếu kết nghĩa, sau lại cầu hôn với An Dương để cho Trọng làm con rể, ở đó trộm lấy phá hủy lẫy nỏ. Trọng về báo, phát sứ sang Việt. Hùng Vương bèn lệnh Chàng Út dẫn ba ngàn quân giúp Triệu Đà đánh Thục chiếm nước thành công. Triệu Đà lên ngôi là Vũ Đế, nhưng vẫn cắt Quảng Tây cho Việt.

Theo thần tích Hạ Mạo, Chàng Út là con của Việt Tây Vương Hùng Ánh (Hậu Hùng Vương), đã dẫn quân cùng với Triệu Vũ Đế đánh Thục (tức là quân Tần) thắng lợi, lập quốc và phục thù nhà. Vợ của Chàng Út là “hoàng hậu họ Triệu”, tức là con gái của Triệu Vũ Đế. Triệu Vũ Đế còn ban sắc phong cho Chàng Út là Út Ngọ Lôi Mao Đại vương, cai quản một vùng đất riêng Quảng Tây. Có thể thấy, đây là sự kiện lập nước Nam Việt của nhà Triệu. Danh xưng triều đại nhà Triệu không lấy theo họ cha (họ Lê của Hùng Ánh) mà lấy theo họ mẹ, do dòng bên mẹ có Triệu Vũ Đế là hoàng đế của cả khu vực.

Câu đối ở đình Hạ Mạo, Phú Thọ:
雄貉紀傳來滅蜀平吳明在史
粵西相遜後龍祥山壯莫成莊
Hùng Lạc kỷ truyền lai, diệt Thục bình Ngô minh tại sử
Việt Tây tương tốn hậu, long tường sơn tráng mạc thành trang.
Nghĩa là:
Hùng Lạc ký truyền nay, diệt Thục bình Ngô rạng ở sử
Việt Tây cùng nhường đó, điềm rồng thế núi bãi thành trang.

Đây là thông tin hết sức mới lạ về nguồn gốc nhà Triệu của nước Nam Việt, cho phép giải mã được những khúc mắc lịch sử hiện tại về thời kỳ Hậu Hùng Vương. Có thể tóm tắt lại diễn biến của thời kỳ này theo những thông tin mới thu nhận từ thần tích Hạ Mạo như sau. Hùng Vương thứ 18 là dòng Tiên Phượng theo mẹ Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, tương ứng với vị vua Chu cuối cùng là Chu Noãn Vương. Tác phẩm thơ Thiên Nam ngữ lục có đoạn về thời gian này như sau:
Kể từ Hùng tổ trị dân
Lên ngôi sánh với thánh nhân Đào Đường
Tới nay Chu mạt Noãn Vương
Ông cha con cháu giữ giàng trị dân…
Ấm bao nhiêu, rét bấy nhiêu
Vườn Chu ải giậu, Tần trèo đãng hoa.

Giặc Thục tấn công và diệt Hùng Vương là nước Tần. Một chư hầu của Hùng Vương mang họ Lê không thần phục Tần đã cát cứ đất Quảng Tây mà xưng vương. Đây là vị Vũ Vương, tức là vị vua đầu triều, của nước Nam Việt. Vũ Vương có người vợ là con gái của Đông Chu Văn Quân, tức là dòng dõi nhà Chu. Khi Triệu Đà khởi nghĩa chống Tần, Vũ Vương cử các con cùng quân đội giúp Triệu Đà định được thiên hạ. Triệu Đà lên ngôi Hoàng đế, xưng là Triệu Vũ Đế. Triệu Vũ Đế phong cho Vũ Vương họ Lê làm vua đất Việt Tây như một chư hầu. Con Út của Vũ Vương họ Lê là người có công trong việc diệt Tần lập quốc, được Triệu Vũ Đế gả con gái cho, là Triệu hậu. Út Ngọ Lôi Mao lên nối ngôi cha ở Quảng Tây tức là Triệu Văn Vương trong lịch sử. Họ Triệu của nước Nam Việt lấy theo họ bên ngoại (theo Triệu Vũ Đế) từ đây.

Bách Việt triệu tổ cổ lục của họ Nguyễn ở Thanh Oai cho thông tin về vua Triệu: Nguyễn Thận là con trai Hùng Dực Công và bà Trần Thị Quý – người làng Chân Định (nay là làng Đại Định, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai – Hà Nội), sau lấy vợ kế là bà Nguyễn Thị Sinh… Chị ruột Nhâm Hiêu lấy viên quan Thái giám họ Triệu tên là Cao, không có con, bèn đem Nguyễn Thận cho Triệu Cao nuôi, đổi tên họ là Triệu Đà.

Về đoạn sử này, Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép là Triệu Vương lúc nhỏ có tên là Nguyễn Thận, cùng với Chử Đồng Tử nương tựa vào nhau, mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên mà sống. Sau đó Nguyễn Thận gặp và đi theo Nhâm Hiêu về Bắc. Chị ruột Nhâm Hiêu lấy quan thái giám Triệu Cao, không có con, nên nhận Nguyễn Thận về nuôi, đổi tên thành Triệu Đà… Triệu Cao là thái giám mà lại lấy vợ để có con? Thông tin này gián tiếp chỉ ra rằng đây không phải nói tới thái giám Triệu Cao của nhà Tần.

Triệu Đà lấy họ theo Triệu Cao và lập nước Nam Việt. Như vậy bản cổ lục này có ý nói Triệu Cao là vị tổ của nhà Triệu Nam Việt, nói cách khác là Triệu Cao là Triệu Vũ Đế. Chữ Cao ở đây nghĩa là vị tổ đầu tiên. Còn Nguyễn Thận trong chuyện này là Triệu Quang Phục, chứ không phải Triệu Đà ở Đồng Sâm.

Làng Quảng Minh, Mỹ Hưng, Thanh Oai thờ một vị Đại vương họ Triệu và thường được các “tín đồ” của Cổ Lôi ngọc phả dẫn rằng đây là nơi thờ Triệu Đà, người Việt chính cống, bởi trong Cổ Lôi ngọc phả kể về một vị Nguyễn Cẩn (hay Thận), là con của Hùng Dực Công (em của Hùng Duệ Vương), sau làm con nuôi của Triệu Cao và đổi sang họ Triệu, rồi làm vua nước Nam Việt… Làng Quảng Minh có vẻ cũng thích thú việc thành hoàng quê mình là vị Hoàng đế khai quốc Triệu Đà nên khá tin vào câu chuyện trên. Nhưng thực ra Cổ Lôi ngọc phả không hề có chữ nào nói về Triệu Đà cả, vì như họ đã ghi đây là ông Nguyễn Cẩn hoặc Nguyễn Thận, chưa từng chép tên Đà. Tức là bản thân vị họ Triệu được nhắc đến trong Cổ Lôi ngọc phả không phải là Triệu Đà.

Ngọc phả Hạ Mạo phối hợp với thần tích của làng Mạo Phổ bên cạnh cho biết vị vua Triệu, cháu của Hùng Duệ Vương cùng Sơn Thánh chống Tần là Út Ngọ Lôi Mao hay Triệu Quang Phục. Đây không phải là Triệu Đà, người xưng Vũ Đế, bởi Triệu Vũ Đế không phải dòng dõi quý tộc Hùng Vương và khởi nghĩa ban đầu là ở đất Chân Định, không phải ở vùng Phong Châu. Triệu Vũ Đế thực ra là cũng là vị Cao Tổ họ Triệu, nên Cổ Lôi ngọc phả chép thành Triệu Cao. Triệu Quang Phục Nguyễn Cẩn là “con nuôi” của Triệu Cao Tổ là chính xác.

Triệu Quang Phục có cha là Triệu Túc, hay Hậu Hùng Vương (em Hùng Duệ Vương) trong ngọc phả Hạ Mạo. Mẹ của ông là Duyên Hòa Thánh mẫu thờ ở Mạo Phổ, là con gái Đông Chu Quân, tức triều vua Hùng đời cuối. Triệu Quang Phục đã cùng với Triệu Đà (được kể thành Sơn Thánh) khởi nghĩa chống Tần thắng lợi. Triệu Đà xưng là Vũ Đế, còn Triệu Quang Phục sau đó xưng vương, tức là Triệu Việt Vương. Triệu Vũ Đế gả con gái cho Triệu Quang Phục nên từ đó nước Nam Việt theo họ Triệu (chi tiết giống Nguyễn Cẩn theo Triệu Cao làm con nuôi và đổi họ).

Như vậy, vị Triệu công chính vị ở Quảng Minh hay Nguyễn Cẩn trong Cổ Lôi ngọc phả là Triệu Quang Phục, người sau này trở thành Nam Việt Vương. Đây là một vị khác, không phải Vũ Đế Triệu Đà ở Đồng Sâm (Thái Bình), người là Cao Tổ đã xưng Đế cả thiên hạ Trung Hoa sau khi diệt Tần thắng Sở. Vị “Tả Hoàng hậu” họ Trần ở Quảng Minh tương ứng với con gái Đông Chu Quân, vợ của Hậu Hùng Vương Triệu Túc.

Câu đối đình Hạ Mạo ở Phú Thọ.

 Sự tích về Triệu Quang Phục đánh du kích ở đầm Dạ Trạch rồi lên ngôi lập nước Nam Việt, xưng Đế sánh ngang với nhà Hán còn được kể trong nhiều tư liệu, mà sẽ được dẫn trong một bài viết khác. Như vậy, có thể tóm tắt về 3 vị vua Hùng mang “họ Triệu” như sau:

  1. Triệu Đà đánh An Dương Vương trong truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy là Tần Vương, vì nhà Tần vốn mang họ Triệu.
  2. Triệu Vũ Đế được kể trong Sử ký Tư Mã Thiên là người lấy vợ ở Thái Bình, khởi nghĩa kháng Tần ở núi Châu Sơn, chiếm Long Biên.
  3. Triệu Việt Vương là Triệu Quang Phục, con rể của Triệu Vũ Đế, tiếp ngôi của Vũ Đế chống giặc ở Dạ Trạch rồi lập nước Nam Việt, xưng Đế (Triệu Văn Đế).
Hoành phi Tự đế kỳ quốc ở đình Đa Vạn, Gia Lâm, Hà Nội.
Tượng Triệu Vũ Đế bị bỏ trong kho chùa ở vùng Châu Sơn thuộc Quế Võ, Bắc Ninh.
Long Hưng điện ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Friday, June 21, 2024

Sử Việt và Cổ Lôi ngọc phả truyền thư

Giai đoạn lịch sử tiếp theo Bách Việt triệu tổ cổ lục được ghi chép trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, lưu giữ ở nhà thờ họ Nguyễn tại tổng Xốm (Bình Đà). Cổ Lôi ngọc phả chép: Hùng Duệ Vương sinh được 12 người con trai, 6 con gái. Thời kỳ đầu vua thông minh chính trực, nhưng từ khi lấy con gái họ Lê thì đam mê tửu sắc, bị Thục Vương, Cao Thông và Nồi Hầu lừa cho uống rượu say. Lại bị con gái họ Lê là cô ruột Lê Phán sai khiến, nên đến nỗi giết hết cả các con trai, con gái, con rể. Rồi mang họa diệt thân, đến lúc chết vẫn còn say chưa tỉnh.

Đoạn kể này mô tả không khác gì vị vua cuối cùng của nhà Ân là Trụ Vương, một người có sức khỏe phi thường, nhưng sau vì ham mê Đát Kỷ, đã giết vợ, diệt con, cuối cùng mất nước trong tay Vũ Vương Cơ Phát. Cơ Phát là vị vua đầu của nhà Chu, khởi sự từ vùng đất phía Tây, nên cũng tương đương với Thục (Thục là hướng mặt trời lặn). Cơ Phát là Lê Phán trong Cổ Lôi ngọc phả. Ân Trụ Vương là vị vua Hùng đời cuối (theo dòng Lạc Long Quân), tức là Hùng Duệ Vương.

Việc vua Hùng say mê một bà phi gây ra loạn mất nước cũng được Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả kể đến qua chuyện bà vu nữ. Hùng Vương do nghe lời vu nữ, xúc phạm đến thiên uy, gây ra nạn dịch bệnh và binh đao trong cuộc chiến với giặc Ân. Có thể thấy bà vu nữ này và bà cô họ Lê trong Cổ Lôi ngọc phả là một. Đây là vị Ma Cô Tiên, phi nhân của vua Ân trong Truyện Giếng Việt ở núi Vũ Ninh.

Khi xác định được thời điểm của câu chuyện giữa Hùng Duệ Vương và Thục Lê Phán là cuộc chiến thay đổi triều đại từ Thương sang Chu trong Hoa sử thì những nhân vật liên quan trong Cổ Lôi ngọc phả cũng được sáng tỏ. Cổ Lôi ngọc phả kể giai đoạn này có 2 phe Hùng và Thục. Phe phía Hùng Vương có con trai của Lạc tướng Nguyễn Phục là Đông Hải đại vương, lấy công chúa Xích Vân. Tiếp đó là ba anh em Sơn Thánh Nguyễn Tuấn, Cao Sơn và Quý Minh, trong đó Nguyễn Tuấn lấy công chúa Ngọc Hoa. Phía Lê Phán có hai tướng là Cao Thông và Nồi Hầu.

So sánh với chuyện Phong thần diễn nghĩa thì đây là 2 phe Xiển giáo và Triệt giáo. Anh em Sơn Thánh Nguyễn Tuấn, Nguyễn Hiển, Nguyễn Sùng thì đã biết là anh em của Sùng Hầu Hổ, Bắc bá hầu nhà Ân. Cao Sơn Quý Minh cũng là "quỷ núi" được nói đến trong chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa, hiện hình phá thành xây ở núi Thất Diệu. Cổ Lôi ngọc phả cũng kể đến việc Nguyễn Tuấn cho người đến phá việc xây thành Ốc do Lê Phán chủ công.

Đông Hải Đại vương tương ứng là Thân Công Báo, là quốc sư phía nhà Ân. Thân Công Báo khi phong thần có tước hiệu là Đông Hải phân thủy tướng quân. Thân Công Báo cầm đầu quân đội của nhà Ân nên trong huyền sử Việt được kể là Thạch Linh thần tướng.

Về phía Thục, Cao Thông hay Cao Lỗ là Chu Công Đán, người em của Chu Vũ Vương Cơ Phát. Chu Công được phong ở đất Lỗ, nên gọi là Cao Lỗ (thủ lĩnh nước Lỗ). Cao Thông thiết Công, là tên của Chu Công. Chu Công là người đã đặt ra lễ nhạc, viết các lời hào trong Kinh Dịch, được kể thành Cao Thông chế tác nỏ thần.

Vị Nồi Hầu theo Cổ Lôi ngọc phả là một thợ đúc đồng giỏi trong nước, được triệu về kinh đô là chức quan trông nom việc đúc các vật dụng bằng kim loại. So sánh tương ứng thì đây là Lã Vọng Khương Tử Nha, người từng được Trụ Vương triệu vào cung để làm chức quan quản lý việc xây dựng đền đài cung điện. "Pháp thuật" của Khương Tử Nha có lẽ chính là ở khả năng "luyện kim", đúc đồng này. Và cũng chỉ có Khương Tử Nha thì mới tương đương để đối đầu với Thạch Linh thần tướng Thân Công Báo.

Dù xác định thế nào thì đây cũng vẫn là chuyện của 2 dòng lên rừng và xuống biển trong cuộc đối đầu Ân - Chu. Cổ Lôi ngọc phả vốn là ghi chép của dòng theo cha Lạc Long xuống biển nên khi những nhân vật của nhà Thục ở đây bị kể theo cách "dìm hàng", khác ngược với lối kể thường thấy của Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả, tức là phả chép của dòng lên núi theo mẹ Âu Cơ.

Đặc biệt thú vị là thông tin của Cổ Lôi ngọc phả về Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử vốn là một chú bé nhà nghèo mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên, sau gặp được công chúa Tiên Dung, có tiền học tập đã trở thành một thầy lang có tiếng. Rồi sau đó được triệu về kinh đô Phong Châu làm Thái y trong hoàng cung. Chử Đồng Tử vừa mới lấy được công chúa Tiên Dung thì bị vua Hùng nghe lời dèm pha mà đuổi đi. Trong một đêm Chử Đồng Tử bị giết chết ở bãi Tự Nhiên… Còn công chúa Tiên Dung đi tu ở chùa Hương Tích.

Nếu xét trong bối cảnh nhà Chu thì vị Chử Đồng Tử của Cổ Lôi ngọc phả này chính là Lão Tử. Lão Tử vốn xuất thân là dân thường ở vùng Hà Nam (Phủ Lý - Kim Bảng), sau làm quan Thủ thư cho nhà Chu và cũng là vị thầy thuốc giỏi, chữa bệnh dịch (Xích Tị) cho người dân. Lão Tử cũng có quan hệ với một vị công chúa nhà Chu, được kể trong tích bà chúa Ba Diệu Thiện. Công chúa Diệu Thiện bị ép duyên, bỏ đi tu chính xác cũng ở chùa Hương Tích, trở thành Nam Hải Quan Âm. Trong tích Diệu Thiện, Lão Tử được kể là vị thầy thuốc Triệu Chấn đi theo công chúa. Lão Tử ở nước ta được tôn thờ với tên Huyền Thiên Trấn Vũ, do sự tích trừ yêu diệt quỷ ở núi Sái tại Cổ Loa.

Cuối thời nhà Thục là chuyện về nhà Triệu. Cổ Lôi ngọc phả kể: Nguyễn Thận là con trai Hùng Dực Công và bà Trần Thị Quý người làng Chân Định, sau lại lấy vợ kế là và Nguyễn Thị Sinh. Hùng Dực Công là em ruột Hùng Duệ Vương. Mẹ chết Nguyễn Thận về Chân Định, cùng Chử Đồng Tử nương tựa vào nhau, mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên. Nhâm Hiêu là một tướng Tần gặp Nguyễn Thận thì dẫn theo ra biên ải. Chị ruột của Nhâm Hiêu lấy viên Thái giám họ Triệu tên Cao, không có con, bèn đem Nguyễn Thận cho Triệu Cao nuôi, đển tên họ là Triệu Đà.

Chuyện về Triệu Đà Nguyễn Thận trong Cổ Lôi ngọc phả không khác gì chuyện về Triệu Quang Phục mới được biết đến gần đây qua thần tích ở Hạ Mạo (Lâm Thao, Phú Thọ). Quang Phục vốn là dòng dõi quý tộc nhà Chu, có cha là em của Hùng Duệ Vương được phong đất ở Quảng Tây, lấy họ Lê, gọi là Lê Hùng Ánh. Khi nhà Hùng bị diệt, Lê Hùng Ánh tự lập xưng là Hậu Hùng Vương. Hậu Hùng Vương cử con là chàng Út Ngọ cùng với Triệu Vũ Đế chống Tần. Như thế Hậu Hùng Vương tương ứng với Hùng Dực Công, Triệu Vũ Đế tương ứng với Triệu Cao, Út Ngọ Lôi Mao tương ứng Nguyễn Thận ở Cổ Lôi. Chú ý vị Út Ngọ Lôi Mao hay Triệu Quang Phục này là Triệu Đà, người xưng Đế nước Nam Việt. Còn vị Triệu Vũ Đế ở đền Đồng Xâm, Kiến Xương Thái Bình là Triệu Cao, tức là Cao Tổ Lưu Bang, hay Lý Bôn của sử Hoa Việt.

Còn một nhân vật nữa trong chuyện này là Nguyễn Công Trọng hay Trọng Thủy, liên quan đến nhà Tần. Thực ra chuyện Trọng Thủy làm con rể An Dương Vương là kể về cuộc chiến giữa Thục và Tần, hay việc nhà Tần thay thế nhà Chu. Vị vua Thục cuối cùng đóng đô ở Cổ Loa là Đông Chu Quân, đã bị quân Tần diệt. Trọng Thủy là Tần Trang Tương Vương hay Dị Nhân Doanh Tử Sở đã ở rể ở đất Triệu (Chu). Con của Trọng Thủy lên ngôi, thống nhất thiên hạ, xưng là Tần Thủy Hoàng Đế. Truyền thuyết Việt gọi là Triệu Lạc Linh.

Khảo luận so sánh giữa các tư liệu ở tổng Xốm Bình Đà về cổ sử Việt tạm dừng lại ở giai đoạn này. Lướt qua Bách Việt triệu tổ cổ lụcCổ Lôi ngọc phả truyền thư đều thấy ăn khớp với những nhân vật và sự kiện chính của Hoa sử và huyền sử Việt. Điều này là hiển nhiên vì lịch sử vốn chỉ có 1. Dù là các kể theo dòng lên núi (Hùng Vương ngọc phả) hay xuống biển (như ở Bình Đà), hay trong sử Trung Hoa thì đều là một quá khứ của người Việt.


Saturday, April 20, 2024

Sách mới: Long Hưng Triệu Vũ Đế, tư liệu và luận giải

Sách LONG HƯNG TRIỆU VŨ ĐẾ, TƯ LIỆU VÀ LUẬN GIẢI.

Nguyễn Đức Tố Lưu, Thích Tâm Hiệp, Nguyễn Đức Tố Huân,
Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt

Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.

Trong các sách vở lịch sử ngày nay, vị hiền quân Triệu Đà đang phải chịu những nỗi “oan ức” khó giải về thân thế và sự nghiệp của ông. Nhưng có một sự thật không thể bác bỏ đó là vua Triệu được thờ một cách tôn kính ở rất nhiều ngôi đền lớn trên miền Bắc nước ta từ hàng trăm năm nay như một vị Đế vương khai cơ hiển hách của nước Nam người Việt.

Cuốn sách Long Hưng Triệu Vũ Đế, tư liệu và luận giải đã tiếp cận vấn đề nhà Triệu từ những các di tích, di sản văn hóa ở khắp các vùng trên miền Bắc, kết hợp với những phát hiện khảo cổ mới trong những năm gần đây để đưa ra những luận giải có tính đột phá làm rõ thân thế, sự nghiệp không chỉ cho vua Triệu Đà, mà cả thời kỳ nhà Triệu nước Nam Việt.

Triệu Đà xuất thân áo vải, làm quan huyện ở Kiến Xương - Thái Bình, giương cờ khởi nghĩa kháng Tần ở núi Châu Sơn - Bắc Ninh, thấy rồng bay lên ở Long Biên mà thành nghiệp chiếm thành Cổ Loa rồi thống nhất thiên hạ, lên ngôi là Triệu Vũ Đế. Nối tiếp cơ nghiệp của ông là Triệu Quang Phục, chống giặc ở đầm Dạ Trạch, xưng Đế ở Phiên Ngung, lập nên tuyên ngôn Nam quốc sơn hà, đối lập với nhà Tây Hán. Nhà Triệu truyền 5 đời tới Vệ Dương Vương thì kết thúc ở cửa Đại Nha bên bờ biển Nam Định – Ninh Bình.

Lời bài ca trù tế thánh ở đền Đồng Xâm như tóm tắt công nghiệp nhà Triệu:

Nam Hải Kiến Xương cơ, hùng tranh Hán Bắc
Phiên Ngu Chân Định đỉnh, đế thủy Viêm Nam.

Cuốn sách không chỉ là một khảo luận lịch sử độc đáo mà còn là tài liệu hướng dẫn giá trị về văn hóa tín ngưỡng đối với các vị vua nhà Triệu đã khai cơ mở nước Nam người Việt. Khảo cổ các lớp thành Cổ Loa, niên đại các đồ đồng Đông Sơn tìm thấy ở nước ta, con Rồng đá bên Giếng Việt miền Châu Sơn, tấm bia Xá lợi tháp minh ở Luy Lâu... là những bằng chứng vật chất rõ ràng của thời kỳ Nam Việt. Nguồn tư liệu thành văn rất phong phú về phả tích, sắc phong, hoành phi, câu đối, văn tế các vua Triệu được dịch và giới thiệu kỹ lưỡng tại mỗi đền miếu ở từng vùng văn hóa tín ngưỡng liên quan.

Không dừng lại ở khảo cứu các vị vua nhà Triệu, cuốn sách còn luận giải những giai đoạn lịch sử liên quan khác là thời kỳ Thục An Dương Vương và thời Tiền Lý Nam Đế bằng những tư liệu điền dã phong phú và nhận định tổng hợp sâu sắc. Long Hưng Triệu Vũ Đế là cuốn sách không thể thiếu với bất kỳ con dân nước Nam nào quan tâm đến quá khứ hào hùng mở nước trị dân của các bậc tiền nhân người Việt.

Sách in khổ 16x24 cm, dày 710 trang, gồm các phần chính:

Lời nói đầu

  1. Những nỗi oan của vị vua mang tên Triệu Đà
  2. Cổ Loa thành trên Lạc quốc
  3. Chân Định Kiến Xương cơ      
  4. Vũ Ninh dấy nghĩa
  5. Long Biên ngày kháng Tần
  6. Nam quốc sơn hà
  7. Đại Nha hải khẩu
  8. Nam Việt Úy Đà diễn nghĩa
  9. Di tích và lễ hội về nhà Triệu và các nhân vật cùng thời
  10. Thống kê các di tích thờ Triệu Đà, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương
  11. Sắc phong và văn tế vua Triệu
  12. Tài liệu tham khảo

Bản chụp một số tư liệu Hán Nôm

Thursday, November 9, 2023

Sự thực về "Triệu Đà" ở Thanh Oai...

 Làng Quảng Minh, Mỹ Hưng, Thanh Oai thờ một vị Đại vương họ Triệu và thường được các "tín đồ" của Cổ Lôi ngọc phả dẫn rằng đây là nơi thờ Triệu Đà, made in Vietnam chính cống, bởi trong Cổ Lôi ngọc phả kể về một vị Nguyễn Cẩn (hay Thận), là con của Hùng Dực Công (em của Hùng Duệ Vương), sau làm con nuôi của Triệu Cao và đổi sang họ Triệu, rồi làm vua nước Nam Việt...

Các cụ làng Quảng Minh có vẻ cũng thích thú việc thành hoàng quê mình là vị Hoàng đế khai quốc Triệu Đà nên khá tin vào câu chuyện trên. Nhưng thực ra Cổ Lôi ngọc phả không hề có chữ nào nói về Triệu Đà cả, vì như họ đã ghi đây là ông Nguyễn Cẩn hoặc Nguyễn Thận, chưa từng chép tên Đà. Tức là bản thân vị họ Triệu được nhắc đến trong Cổ Lôi ngọc phả không phải là Triệu Đà.

Nay thử xét kỹ xem thực sự Triệu Công chính vị ở Quảng Minh là ai?

Sắc phong thời Lê niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 6 (năm 1711) của làng Quảng Minh ghi phong cho các vị:

  • Linh quảng Thánh thần Triệu chính vị Đại vương,
  • Tả Hoàng hậu,
  • Hữu Phi nhân,
  • cùng Tán trị Thánh thần Đại vương.

Câu đối ở đình Quảng Minh:

文謨武烈動王功著雄朝光史筆

左母右姨啟聖德留梓里豎碑銘

Văn mô võ liệt động vương, công trứ Hùng triều quang sử bút

Tả mẫu hữu di khải thánh, đức lưu tử lý thụ bi minh.

Tạm dịch là:

Mưu văn tài võ động tới vua, công nổi triều Hùng rạng bút sử

Trái mẹ phải dì khởi sinh thánh, đức lưu quê ấp dựng bài bia.

Như vậy, làng Quảng Minh thờ một vị họ Triệu ở ngôi giữa và bên trái thờ mẹ, bên phải thờ dì (em của mẹ) và có thể cùng một vị Tán trị Thánh thần không rõ thông tin.

Bản khai thần tích thần sắc của Quảng Minh cho biết vị Triệu Công này đã cùng Tản Viên Sơn Thánh giúp Hùng Duệ Vương chống quân Thục. Sự việc này xem ra vị Triệu Công ở Quảng Minh tương đồng với vị Nguyễn Cẩn trong Cổ Lôi ngọc phả, là dòng dõi vua Hùng. Tuy nhiên, để xác nhân chân tướng của vị Triệu Công ở vùng Thanh Oai này thì cần tham khảo... bản ngọc phả họ Lê ở Hạ Mạo (nay thuộc TX Phú Thọ, Việt Trì).

Ngọc phả Hạ Mạo phối hợp với thần tích của làng Mạo Phổ bên cạnh cho biết vị vua Triệu, cháu của Hùng Duệ Vương cùng Sơn Thánh chống Tần là Út Ngọ Lôi Mao hay Triệu Quang Phục. Đây không phải là Triệu Đà, người xưng Vũ Đế, bởi Triệu Vũ Đế không phải dòng dõi quý tộc Hùng Vương và khởi nghĩa ban đầu là ở đất Chân Định, không phải ở vùng Phong Châu. Triệu Vũ Đế thực ra là cũng là vị Cao Tổ họ Triệu, nên Cổ Lôi ngọc phả chép thành Triệu Cao. Triệu Quang Phục Nguyễn Cẩn là "con nuôi" của Triệu Cao Tổ là chính xác.

Triệu Quang Phục có cha là Triệu Túc, hay Hậu Hùng Vương (em Hùng Duệ Vương) trong ngọc phả Hạ Mạo. Mẹ của ông là Duyên Hòa Thánh mẫu thờ ở Mạo Phổ, là con gái Đông Chu Quân, tức triều vua Hùng đời cuối. Triệu Quang Phục đã cùng với Triệu Đà (được kể thành Sơn Thánh) khởi nghĩa chống Tần thắng lợi. Triệu Đà xưng là Vũ Đế, còn Triệu Quang Phục sau đó xưng vương, tức là Triệu Việt Vương. Triệu Vũ Đế gả con gái cho Triệu Quang Phục nên từ đó nước Nam Việt theo họ Triệu (chi tiết giống Nguyễn Cẩn theo Triệu Cao làm con nuôi và đổi họ).

Như vậy, vị Triệu công chính vị ở Quảng Minh hay Nguyễn Cẩn trong Cổ Lôi là Triệu Quang Phục, người sau này trở thành Nam Việt Vương. Đây là một vị khác, không phải Vũ Đế Triệu Đà ở Đồng Sâm (Thái Bình), người là Cao Tổ đã xưng Đế cả thiên hạ Trung Hoa sau khi diệt Tần thắng Sở. Vị "tả Hoàng hậu" họ Trần ở Quảng Minh tương ứng với con gái Đông Chu Quân, vợ của Hậu Hùng Vương Triệu Túc.

Câu chuyện về các vị vua Triệu, đế và vương khá lẫn lộn, nên cần suy xét, đối chiếu kỹ càng, tránh để tình trạng như hiện nay, Quảng Minh thay vì thờ Triệu Việt Vương lại cho là Triệu Đà. Còn Đồng Sâm thay vì thờ Triệu Vũ Đế lại treo biển ghi thành ông Nguyễn Cẩn của Cổ Lôi.

Sắc phong làng Quảng Minh năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1711).
Nghi môn đình Quảng Minh.

Ban tiền tế đình Quảng Minh.

Friday, September 22, 2023

Những câu đối hay ở đền Độc Bộ, Ý Yên, Nam Định thờ Triệu Việt Vương Hoàng Đế

 Câu 1

邾山正統皇風遠
鵶海安濤帝德深

Châu Sơn chính thống hoàng phong viễn
Nha Hải an đào đế đức thâm.

Dịch nghĩa:

Núi Châu chính thống dòng vua mãi
Yên sóng biển Nha đức đế sâu.

Câu 2

獨木破梁兵南國同胞皆赤子
頹波障海口浮沙托植囿青春

Độc mộc phá Lương binh, Nam quốc đồng bào giai xích tử
Đồi ba chướng hải khẩu, Phù Sa thác thực hữu thanh xuân.

Dịch nghĩa:

Độc mộc phá quân Lương, nòi giống nước Nam cùng máu đỏ
Sóng dồn che cửa bể, Phù Sa hoa cỏ hóa xuân xanh.

Câu 3

朱鳶鍾秀氣帝烈凜千秋梁寇掃除安殿內
慕澤顯神機王勳留萬古龍爪威儀聖蹟傳

Chu Diên chung tú khí, đế liệt lẫm thiên thu, Lương khấu tảo trừ an điện nội
Mộ Trạch hiển thần cơ, vương huân lưu vạn cổ, long trảo uy nghi thánh tích truyền.

Dịch nghĩa:

Đầm Mộ Trạch rạng tỏ danh thần, tên vua vạn thế sáng soi, nghiêm vuốt rồng truyền lưu tích thánh
Đất Chu Diên đúc nên hào khí, oai đế ngàn thu oanh liệt, trừ quân Lương đất nước yên bình.

Câu 4

夜澤雄飛百戰山河餘宇宙
海門龍遠億年祠廟鎮波濤

Dạ trạch hùng phi, bách chiến sơn hà dư vũ trụ
Hải môn long viễn, ức niên từ miếu trấn ba đào.

Dịch nghĩa:

Dạ Trạch hùng bay, trăm trận núi sông còn vũ trụ 
Rồng xa cửa biển, muôn năm đền miếu chặn sóng đào. 

Câu 5

天子威儀天子庙
帝王凜烈帝王祠

Thiên tử uy nghi Thiên tử miếu
Đế vương lẫm liệt Đế vương từ.

Dịch nghĩa:

Miếu Thiên tử Thiên tử uy nghi 
Đền Đế vương Đế vương lẫm liệt.

Câu 6

弌胞破出双神將
同日飛升二大王

Nhất bào phá xuất song thần tướng
Đồng nhật phi thăng nhị đại vương.

Dịch nghĩa:

Một bầu phá nở hai thần tướng
Cùng buổi bay lên lưỡng đại vương.

Câu 7

独木破梁兵名謄北國
龍編居帝位威振南天

Độc mộc phá Lương binh, danh đằng Bắc quốc
Long Biên cư đế vị, uy chấn Nam thiên.

Câu 8

天上瓊飛三花曾記南塘夢
人間玉牒小月猶傳北直謠

Thiên thượng Quỳnh phi, tam hoa tằng ký Nam Đường mộng
Nhân gian ngọc điệp, tiểu nguyệt do truyền Bắc Trực dao.

Dịch nghĩa:

Quỳnh phi thượng giới, ba đóa còn ghi mộng Nam Đường
Lá ngọc nhân gian, trăng nhỏ bởi truyền chuyện Bắc Trực.

Câu 9

黑虎梦醒符聖瑞
黃龍脱爪顯神机

Hắc hổ mộng tỉnh phù thánh thuỵ
Hoàng long thoát trảo hiển thần cơ.

Dịch nghĩa:

Hổ đen tỉnh mộng phù điềm thánh
Rồng vàng tháo vuốt tỏ cơ thần.

Câu 10

龍矛脱爪僊童去
鴉海翻濤佛子來

Long mâu thoát trảo tiên đồng khứ
Nha hải phiên đào Phật Tử lai.

Dịch nghĩa:

Giáo rồng tháo móng tiên đồng đi
Dậy sóng biển Nha Phật Tử đến.

Câu 11

龍編若果凶神爪
鴉海何能鎮惡濤

Long Biên nhược quả hung thần trảo
Nha Hải hà năng trấn ác đào.

Dịch nghĩa:

Long Biên quả nếu không thần trảo
Nha hải sao còn trấn sóng hung.

Câu 12

前面三江龍水拜
後垂二嶺虎瑰朝

Tiền diện tam giang long thuỷ bái
Hậu thuỳ nhị lĩnh Hổ Khôi triêu.

Dịch nghĩa:

Trước mặt ba sông dòng nước bái
Sau trùm hai núi Hổ Khôi chầu.

Câu 13

帝位卄餘年帝德留傳千古重
聖恩多潤澤聖威長在萬秋興

Đế vị chấp dư niên, đế đức lưu truyền thiên cổ trọng
Thánh ân đa nhuận trạch, thánh uy trường tại vạn thu hưng.

Dịch nghĩa:

Ngôi đế hơn hai mươi năm, đức đế truyền lưu ngàn xưa trọng
Ơn thánh nhiều lần thấm đẫm, oai thánh mãi còn vạn thu vang.

Câu 14

天定其書南國山河南國帝
地留其跡大鴉風水大鴉神

Thiên định kỳ thư, Nam quốc sơn hà Nam quốc đế
Địa lưu kỳ tích, Đại Nha phong thuỷ Đại Nha thần.

Dịch nghĩa:

Trời định sách đó, núi sông nước Nam, vua nước Nam
Đất lưu tích đó, gió nước Đại Nha, thần Đại Nha.

Câu 15

祠廟巍峨鴉海樓臺新宇宙
南天正統龍編城郭舊江山

Từ miếu nguy nga, Nha Hải lâu đài tân vũ trụ
Nam thiên chính thống, Long Biên thành quách cựu giang sơn.

Dịch nghĩa:

Đền miếu nguy nga, lâu đài Nha Hải vũ trụ mới
Trời Nam chính thống, thành quách Long Biên núi sông xưa.

Câu 16

神龍蜜献擊賊大勝梁兵回帝位
獨木長期進攻消耗力量鎮龍城

Thần long mật hiến kích tặc, đại thắng Lương binh hồi đế vị
Độc mộc trường kỳ tiến công, tiêu hao lực lượng trấn Long thành.

Dịch nghĩa:

Rồng thần mật hiến cách đánh giặc, đại thắng quân Lương lên ngôi đế
Độc mộc trường kỳ tiến công, tiêu hao lực lượng trấn thành Long.