Showing posts with label Huyền Thiên Lão Tử. Show all posts
Showing posts with label Huyền Thiên Lão Tử. Show all posts

Wednesday, February 18, 2026

CHÙA ĐOAN MINH – DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT

 1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Chùa Đoan Minh 

Tên khác: Chùa Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc sông Cầu.

Yếu tố phong thủy: Nằm ở trên một thế đất đẹp hướng Nam ghé Tây, phía trước cách khoảng sân rộng là đình Thổ Hà.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Tương truyền chùa Thổ Hà được nhân dân làng Thổ Hà xây dựng từ lâu đời với quy mô nhỏ, ban đầu chỉ là am động. Công trình kiến trúc cổ hiện nay được khởi dựng từ trước năm 1580 thời Mạc (thế kỷ XVI). Trải qua thời gian ngôi chùa đã được tu sửa nhiều vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX) hiện nay ngôi chùa vẫn bảo lưu được kiến trúc cổ.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Thờ Phật với hệ thống tượng Phật giáo Đại thừa Việt Nam. Chùa xây dựng bởi cùng Sơn môn Bổ Đà. Khu nhà tổ còn có gian mẫu, thờ Tam tòa thánh mẫu và công đồng.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: 

  • Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, cho nên ta thông minh khác thường. Mẹ ta vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.

Lúc bấy giờ có giặc Xích Tỵ, Lão Tử vâng mệnh vua đi trừ quỷ dữ. Người đọc thần chú rồi dùng gậy trúc lấy hương phù thư lên phóng đi 4 phương, yêu quái đều hết, dân trang làm ăn yên ổn. Nhà vua ban thưởng cho thực ấp ở huyện An Việt. Sau được vua phong làm Thượng đẳng thần, phong cho mẹ ngài là Đoan Từ chi nhân.

Sau này Ngài lại giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được nhà vua phong là Đương cảnh Thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù và phong cho mẹ ngài là Đoan Ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Kiến trúc của chùa theo kiểu “Nội công ngoại quốc” có quy mô lớn, gồm: tam quan, sân chùa, toà tiền đường, tòa thượng điện, 2 dãy hành lang, tòa Phật động và nhà tổ. Qua sân sau rộng là khu nhà tổ.

Mô tả từng hạng mục: Nền tiền đường cao, có 3 bậc bó bằng đá tảng xanh. Toà tiền đường 7 gian 2 chái, thượng điện 5 gian, toà giữa Phật động 5 gian 2 chái, 2 dãy hành lang mỗi dãy 10 gian. Khu đất Tổ có 9 gian. Trong chùa kết cấu vì kèo theo kiểu chồng rường đấu kê, độc trụ truyền thống. Các cấu kiện kiến trúc bằng gỗ lim. Tường bao được xây bằng gạch chỉ, ngoài phủ vữa, quét vôi trắng. 

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Kiến trúc: Tòa tiền tế mặt ngoài kiến trúc với mái đao, bậc thềm đá cổ. Bên thềm còn giữ được một số rồng bậc thêm cổ thời Mạc còn nguyên vẹn. Bờ nóc chính giữa đắp nổi bức đại tự chữ Hán: “Đoan Minh tự”. Hiện chùa xây thêm tam quan mới bên ngoài.

Phía trước tòa tiền đường chùa Thổ Hà là đôi rồng đá uốn khúc (rồng yên ngựa) đặt trên bệ cao, có dòng chữ đề mua năm Giáp Thân, được xác định là năm 1580 thời Mạc Mục Tông. Và một đôi nghê đá xanh thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII). Đây là những hiện vật cổ có giá trị lớn về mặt nghệ thuật và khoa học.

Chạm khắc gỗ: Hệ thống đầu bẩy chùa Đoan Minh có chạm khắc thờ Hậu Lê kỹ lưỡng. Bên trong chùa đa phần để trơn và trang trí hoành phi, tranh khắc sơn.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: 

Hệ thống tượng cổ: 

Hiện nay chùa Thổ Hà còn bảo lưu được khá nhiều hiện vật hệ thống tượng Phật cổ, khoảng gần 50 pho tượng. Hệ thống tượng chính nằm ở tòa thượng điện và tiền đường. 

Thượng điện có nhiều tượng cổ giá trị được bày theo lớp là tượng Quan Âm Chuẩn Đề, Phật Di Lặc, Phật A Di Đà, tượng Thích Ca sơ sinh. Trong cùng là tượng Phật Thích Ca kích thước lớn, phía trên là bộ Tam Thế Phật. Hai bên thượng điện là tượng Thập điện Diêm vương, Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát…

Phía trước thượng điện có hoành phi: Quỳnh khuyết châu cung. Nghĩa là: Cửa quỳnh cung ngọc

Bộ cửa võng chạm rồng phượng, hoa lá có hoành phi: Long hoa hội. Nghĩa là: Hội rồng hoa.

Và đôi câu đối:

Phi nẵng phi kim, thiên địa tương chung thuỷ

Bất thường bất trú, phật pháp nhất tính tâm.

Nghĩa là:

Không xưa không nay, cùng trước sau với trời đất 

Không đi không ở, một tính lòng theo phép phật.

Tiền tế bố trí hai tượng Hộ pháp lớn và Bát bộ kim cương, tượng Văn Thù và Phổ Hiền cùng khá nhiều tượng hậu cổ. Hoành phi phía trên tượng Hộ pháp:

Bất nộ nhi uy. Nghĩa là: Không dữ mà có oai

Lập ư vô quá. Nghĩa là: Giữ ở ngưỡng không quá.

Câu đối ở giữa tiền tế:

Tứ cố phong quang, tuệ nhật từ vân tự tại

Nhất thiên cảnh thắng, danh lam cổ tự trường lưu.

Nghĩa là:

Bốn phía phong quang, ngày tuệ mây từ tự tại

Một trời thắng cảnh, danh lam chùa cổ mãi còn.

Hai bên hành lang bố trí 18 vị La Hán, phía cuối là ban Thánh hiền và Thánh tăng. Hoành phi ban Thánh tăng: Tú khí chung linh. Nghĩa là: Khí đẹp đúc thiêng. Hoành phi ban Thánh hiền (Đức chúa ông): Âm dương hợp đức. Nghĩa là; Đức âm dương hòa hợp.

Nằm sau chùa chính là tòa Phật động được thể hiện với rất nhiều tượng nhỏ và hai ban Đế Thích và Phạm Thiên. Phật động thể hiện sự tích Phật Thích Ca từ lúc sơ sinh, đi tu đến lúc đắc đạo. Phía trên Phật động là bức hoành phi lớn sơn nâu thếp vàng đề: Đoan Minh tự, với niên hiệu Khải Định năm Tân Dậu (1921)

Câu đối hai bên Phật động:

Chí đạo cực chí đạo tinh, minh mặc tự tồn chân chủ tể

Thiên hạ khê thiên hạ cốc, thâm vi trực thám đại nguyên đầu.

Nghĩa là:

Đạt đến mức tinh cực của đạo, lặng lẽ tự tại thực chúa tể

Khắp chốn hang ngõ trong thiên hạ, thâm diệu thẳng truy lớn đầu nguồn.

Trong nhà tổ cũng có ban thờ phật, thờ mẫu và ban thờ tổ với nhiều tượng cổ có giá trị nghệ thuật. Ở chính giữa gian nhà tổ, là nơi thờ Phật có bức cửa võng sơn son thếp vàng, chạm khắc rồng chầu, rồng phượng, tùng trúc và hoành phi: Liên trì hải hội. Nghĩa là: Hội biển ao sen. Phía trên là một bức cuốn thư sơn son thếp vàng, chạm hình hoa cúc hóa long.

Câu đối gian giữa:

Phạm vũ ngộ huyền cơ, nhất nhi nhị nhị nhi nhất

Thiền sư vô biệt ngữ, tâm tức phật phật tức tâm.

Nghĩa là:

Mái Phạn ngộ huyền cơ, một mà hai, hai mà một

Thiền sư không nói khác, tâm là phật, phật là tâm.

Gian thờ mẫu gồm Tam tòa Thánh mẫu và các hàng chầu, các quan hoàng… Phía trước gian có câu đối:

Thiên địa sơn hà, dục tú chung anh lưu chính khí

Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc lẫm linh thanh.

Nghĩa là:

Trời đất núi sông, nuôi đẹp đúc anh lưu chính khí

Thần tiên phật thánh, trừ tai giáng phúc tỏ linh thiêng.

Đồ thờ tự cổ: 

Ngoài hệ thống tượng phật, mẫu, tổ, còn nhiều bát hương gốm Thổ Hà cổ, các bức chạm trang trí được sơn son thếp vàng hình hoa lá, chim thú (ở khu nhà thờ tổ) hay tứ linh (khu Thánh hiền và Thánh tăng), hoa lá và chữ Phạn hay chữ tượng hình (ở thượng điện).

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Trong chùa Thổ Hà ngoài những câu đối và hoành phi đã giới thiệu ở trên còn nhiều câu đối và hoành phi khác, đều là cổ, được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo, nội dung sâu sắc, phong phú. Ví dụ, câu đối ở tiền tế:

Bái thủ nhiệt Chiên đàn, thành cách dao khung tam giới phủ

Tín tâm trì Phật hiệu, danh tiêu tịnh vực cửu liên trì.

Nghĩa là:

Chắp tay thắp Chiên đàn, lòng thành tới khắp phủ ba giới

Lòng tin giữ tên Phật, danh tỏ chốn tịnh hồ chín sen.

Câu đối ở thượng điện:

Cửu phẩm liên đài, kim tương đoan nghiêm thuỳ tiếp dẫn

Thất trùng bảo thụ, ngọc hào xán lạn phóng quang minh.

Nghĩa là:

Đài sen chín tòa, tướng vàng đoan nghiêm trùm dẫn tiếp

Cây báu bảy tầng, ánh ngọc rực rỡ phóng hào quang.

Câu đối khác ở thượng điện:

Nhiễu phật tòa, lễ phật biên, tâm phật tâm nhân vô nhị niệm

Xuy pháp loa, kích pháp cổ, nhiên pháp cự tăng hữu lục hoà.

Nghĩa là:

Quanh tòa Phật, lễ bên Phật, tâm Phật lòng người không hai ý

Thổi loa pháp, đánh trống pháp, lửa pháp đuốc tăng có sáu hòa.

Câu đối ở nhà thờ tổ:

Tứ đại huyền không, dương khánh âm siêu vô hạn lạc

Quần sinh giác ngộ, dân khang vật phụ hữu dư xuân.

Nghĩa là:

Bốn đại huyền không, dương vui âm độ mừng vô hạn

Chúng sinh giác ngộ, dân khỏe vật mạnh xuân có dư.

Hệ thống bia đá chùa Đoan Minh còn 12 tấm. Đáng chú ý nhất là tấm bia “Thủy tạo đại thạch bi. Các chung tam quan Đoan Minh tự bi” dựng vào năm Vĩnh Trị thứ 4 (1679). Nội dung bia về việc xây dựng gác chuông và tam quan của chùa. Đây là tấm bia bốn mặt, kích thước lớn, chạm khắc hoa sen, nghê thú, được dựng ở trước sân chùa. 

Ở khu Phật động có tấm bia “Tam bảo thị độ bi” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) là bia cổ nhất của chùa nói về việc lập Tam bảo ở bến chợ. Cạnh đó có cây hương 4 mặt tạo năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710) ghi danh người góp tiền xây dựng và tu sửa chùa.

Ở nhà tổ có một số bia đá sau:

Lập thạch bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) về việc gửi giỗ cho song thân của ông Trịnh Đắc Tỉnh và bà Nguyễn Thị Nhuận.

Tự Đức bát niên” tạo năm 1855 về việc gửi Hậu.

Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 8 (1855) về việc lập Hậu.

Hậu Phật bi ký” tạo năm Tự Đức thứ 9 (1856) ) về việc lập Hậu.

Hậu Phật bi kỵ” tạo năm Tự Đức thứ 10 (1857) ) về việc gửi giỗ.

Ngoài ra trong nhà tổ còn mấy tấm bia tiêu đề “Ký công thạch bi” và “Hậu Phật bi ký”…. 

Trong cơ sở thác bản bia từ thời Pháp còn có thác bản các tấm bia sau của chùa Đoan Minh:

Đoan Minh tự tạo Bổ Đà bi ký” tạo năm Đức Long thứ 5 (1633) về việc quyên góp tạo núi Bổ Đà ở chùa Đoan Minh. Bia ghi danh sách những người tham gia đóng góp.

Đoan Minh tự tạo thạch lô bia ký” tạo năm Thịnh Đức thứ 1 (1653) về việc tu sửa chùa Đoan Minh. Năm Mậu Tý (1648) xây tường liễu, gồm 56 bức, trùng tu gác chuông, dựng cầu ở chợ gồm 12 gian. Năm Kỷ Sửu (1649) mua đá lát đường vào chùa Đoan Minh. Đến nay dựng bia ghi tên những người đã đóng góp công đức.

Hiện trong gian nhà mẫu của chùa có 1 chuông đồng cổ cỡ nhỏ, tiêu đề Cung phụng phật thánh, niên đại Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Lễ hội làng Thổ Hà là lễ hội chung cho đình và chùa Thổ Hà nhằm tôn vinh Thành hoàng làng Lão Tử và thánh mẫu Thổ Hoàng Phu nhân, mẹ của ngài. Đây là một lễ hội đặc sắc, đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ chính của chùa được tổ chức trong các ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch, ngoài nghi lễ dâng hương cúng Phật còn có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh cờ tướng, bơi chải bắt vịt, hát quan họ…

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Chùa Thổ Hà được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, theo Quyết định số 226-QĐ/BT, ngày 05/02/1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin.

Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Chùa Đoan Minh.

Rồng và nghê đá trước cửa chùa

Bia tứ diện niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 (1679) trong sân chùa Đoan Minh.

Thượng điện chùa Đoan Minh.

Tượng Bát bộ Kim cương.

Hoành phi Đoan Minh tự và Phật động.

Bia Tam bảo thị độ bi niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653)

Nhà tổ chùa Đoan Minh.

Chính gian thờ Phật ở nhà tổ chùa Đoan Minh.

Gian thờ mẫu chùa Đoan Minh.

Chuông đồng thời Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).

Bia Hậu Phật chùa Đoan Minh.

Đình Thổ Hà, di tích quốc gia đặc biệt

 1. THÔNG TIN CHUNG

Tên gọi: Đình Thổ Hà 

Tên khác: Đình làng Thổ Hà

Địa chỉ cụ thể: Làng Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Vị trí địa lý và không gian cảnh quan:

Mô tả vị trí: Nằm ở trung tâm làng Thổ Hà cổ bên bờ Bắc nhìn ra sông Cầu, phía sau là chùa Đoan Minh phía trước là bến đò.

Yếu tố phong thủy: Theo bản Mục lục của làng thì phong cảnh Thổ Hà bốn phía xinh tươi, phía Đông một dải đất tựa hình rồng quay về chốn tổ, phía Tây một trái núi trông như dáng hổ ngồi chầu, hướng về phương Nam là sông Nguyệt núi Hằng, sách trời đã định, tựa lưng phương Bắc ngon Lát phong, Phúc lĩnh hun đúc khí thiêng.

Niên đại khởi dựng và các lần trùng tu:

Theo tấm bia “Thủy tạo đình miếu bi” thì đình Thổ Hà được xây dựng năm Ất Sửu 1685, thời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa, hoàn thành năm Nhâm Thân 1692 và đã được trùng tu vào thời Nguyễn thế kỷ XIX. Năm 2009 đình Thổ Hà được đại trùng tu và nâng cao như hiện nay.

2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Nhân vật được thờ: 

Đình Thổ Hà thờ đức Thánh ông là Thái Thượng Lão Quân, còn gọi là Lão Đam hay Lão Tử, đức Thánh bà là Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân, mẹ của Lão Tử và thờ tổ sư nghề gốm là ông Đào Trí Tiến.

Sự kiện lịch sử, văn hóa gắn liền với di tích:

Bia Cung sao sự tích thánh ở đình Thổ Hà chép: 

Đời vua Thục An Dương Vương có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: 

  • Ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, trời đất mới mở mang, cho nên ta thông minh khác thường. Năm xưa mẹ ta kể chuyện rằng: mẹ vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.

Quanh vùng nơi ở của người không ai xảy ra tật bệnh, nên người trong trang thường bảo nhau rằng: đó là khí sinh thánh tổ, chẳng phải người thường, các nơi cũng đến xin làm thần tử. Từ đó danh vang thiên hạ, người đến theo học càng đông. 

Lúc bấy giờ trong nước có giặc Quỷ mũi đỏ (Xích Tỵ), một vị quan thị hầu vua bị bệnh ngã nhào xuống đất và sau đó bệnh tật lan khắp mọi nơi, trong nước nhiều nơi mắc bệnh, người ốm người chết thiệt hại rất nhiều. Nhà vua vội truyền hịch đi các nơi: nếu ai trừ được giặc Quỷ vua sẽ gia phong tước lộc. Lão Tử liền vâng mệnh đến nơi có giặc Quỷ, người liền niệm chú rằng: “Đạo pháp bản vô đa, nam thần quán Bắc Hà, đô lai tam thất tự, tận diệt thế gian ma”. Đọc chú xong, Người lại thư phù vào gậy trúc và phóng đi bốn phương, các nơi đều yên ổn. Quan địa phương tâu với triều đình, vua liền mời Lão Tử đến ban thưởng, mở tiệc khoản đãi và phong người là Đệ nhất nhân (người tài nhất). Lại cho ngài được hưởng thực ấp ở vùng An Việt huyện. 

Người bái tạ đức vua và trở về Thổ Hà trang. Về tới nơi Người liền cho xây dựng cung doanh trị sở. Khi xây xong Người cho mời các bô lão trong trang và tất cả học trò đến mở tiệc ăn mừng. Lúc sắp sửa ăn bỗng thấy đám mây năm sắc từ từ sa xuống đất, trong mây thấp thoáng có bóng người mặc áo đỏ, Lão Tử liền theo đám mây cưỡi rồng đỏ mà biến mất. 

Sau đó vua xây thành Cổ Loa có những u hồn và tà ma quấy nhiễu, cứ xây xong lại đổ. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo vua rằng: xin vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi Người sai Thanh Giang sứ (tức thần Kim Quy) đến giúp, giết Bạch kê tinh trong núi Thất Diệu, lại đào được hài cốt Bạch kê đem đốt đi, từ đó yêu ma tan hết, lại đào thấy nhạc khí thời cổ (như chiêng, trống đồng). Thành xây nửa tháng vừa xong, vua hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 2 xa giá đến làm lễ để tỏ lòng tôn kính một vị thần linh tuấn, đó là lẽ thường vậy. 

Lại phong cho là Đương cảnh thành hoàng Thái Thượng Bản giác Linh phù Thượng đẳng phúc thần. Phong mẹ là Đoan ý Trinh thục Nhu hòa Huệ ân Diệu mỹ Thổ Hoàng Thái hậu. Từ đó về sau nghiệm thấy linh ứng nên các triều đại đế vương đều phong mỹ tự.

3. KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT

Bố cục mặt bằng tổng thể và các hạng mục chính:

Mô tả bố cục: Đình chính chữ công gồm đại đình, ống muống và hậu cung phía sau. Phía trước là nhà tiền đình, hai bên sân đình có tả vu và hữu vu nằm trong nghi môn nội. Phía trục đường nhất chính đạo dẫn thẳng ra phía bờ sông là nghi môn ngoại. Một bên phải đình phía sau có nhà thờ Mẫu, thờ mẹ của Lão Tử.

Mô tả từng hạng mục: Tòa đại đình có 5 gian 2 chái, dài 27m rộng 16m với bốn mái đao cong lợp mũi hài. Nghệ thuật điêu khắc ở ngôi đại đình là tiêu biểu nghệ thuật điêu khắc đình làng thời Hậu Lê.

Tòa tiền tế có 3 gian với bốn mái đao và nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn xen với thời Lê. Trong tòa tiền tế đặt 7 tấm bia đá.

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 

Chạm khắc gỗ: Nghệ thuật trang trí điêu khắc trong tòa đại đình trên các cấu kiện kiến trúc thể hiện nét đặc sắc qua các chủ đề khá đa dạng và phong phú với hình rồng, phượng, nghê, lân, tiên nữ … Điêu khắc đình Thổ Hà được chạm trên hầu hết các thành phần kiến trúc của đình như: đấu kê, con rường, kê đầu dư, ván nong câu đầu … Hệ thống 22 chiếc đầu bẩy chạy xung quanh đại đình được chạm khắc tinh tế mang phong cách Hậu Lê.

Đặc biệt bộ cửa võng đình Thổ Hà làm vào năm 1692 được sơn son thếp vàng đục chạm rất công phu. Bộ cửa võng đình Thổ Hà đã được công nhận là Bảo vật quốc gia vào tháng 12 năm 2020.

Kiến trúc: Đình Thổ Hà nhìn từ bên ngoài với hai lớp Tiền tế và Đại đình với các mái đao lớp lớp. Xung quanh Đại đình xây tường lửng dưới có ô vuông để hình hoa cúc bằng gốm nung, trên tường tạo bậu gỗ gắn ván gỗ và chấn song. Xung quanh phần hiên đình được bó bằng đá xanh.

4. GIÁ TRỊ HIỆN VẬT

Bài trí thờ tự: Chính giữa đại đình là nơi đặt hương án, phía trên là bộ cửa võng Bảo vật quốc gia. Hai bên hương án bầy bộ bát bửu và chấp kích và đặt cây hương đá (đèn đá) cổ. Hai bên gian chính có bộ ngựa hồng, ngựa bạch và quản mã cổ, kích thước lớn. Đặc biệt là có 2 cỗ kiệu bát cống cổ sơn son thếp vàng cho Thánh và Mẫu, chạm rồng, phượng rất đẹp. Dải ống muống đặt hương án và hai hàng phỗng chầu. Trong hậu cung đình Thổ Hà xây bệ cao, trên đặt ngai và bài vị Lão Tử. 

Đồ thờ tự cổ có hương án, bát hương, bát bửu, chấp kích, quán tẩy, ngai thờ, ngựa thờ, kiệu cổ … Phía ngoài Tiền tế có treo một chiếc mõ gỗ lớn hình cá, hiện vật khá độc đáo.

Di sản Hán Nôm quan trọng: 

Trong đại đình Thổ Hà còn hàng chục câu đối cổ sơn son thếp vàng, nội dung hết sức độc đáo, ca ngợi công đức của Thái Thượng Lão Quân, là bậc Tiên Thánh Thần thời nhà Chu, sánh ngang với Khổng Tử và Phật Thích Ca. Câu đối hai bên cửa võng:

Qui giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỉ

Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.

Nghĩa là:

Rùa biết nghiệm linh thiêng, trên núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỉ

Rồng tài mau biến hóa, dưới trang mây năm sắc lưu tích lên tiên.

Câu đối khác ở gian phải của đại đình:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo

Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.

Nghĩa là:

Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ chốn thanh hư, mở Đạo Giáo

Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.

Câu đối ở gian trái của đại đình:

Huyền tham Thích điển công tỉ Ni Sơn, Đạo Đức nhất kinh truyền chí bảo

Quyết bản Khương công thuật khai Hoàng Thạch, thần tiên chung cổ hiển linh tung.

Nghĩa là:

Huyền diệu vào tích Thích Ca, công đức như núi Ni Sơn, Đạo Đức kinh một bộ truyền báu vật.

Phù quyết gốc từ Khương Công, pháp thuật mở tảng Đá Vàng, Thần Tiên tự cổ xưa sáng dấu linh.

Tại đình Thổ Hà còn lưu giữ được nhiều bản sắc phong cổ, trong đó có các sắc phong niên hiệu Dương Hòa thứ 3 (1637) và thứ 5 (1639) đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ nhất (1740), thứ 44 (1783) đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Quang Trung năm thứ 5 (1792),  niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) đời vua Quang Toản, niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (1853). Các sắc phong này hiện được sao, dịch và treo ở trong đình, cùng bảng Lược sao sắc văn qua các triều vua phong tặng. 

Ngoài Tiền tế của đình có một chiếc khánh đá cỡ lớn, chạm hình 2 con rồng chầu chữ. 7 tấm bia đá còn lưu giữ tại tiền tế và 1 tấm bia trong đại đình, được bảo quản tốt, chữ còn sắc nét, trang trí hoa văn, có niên đại từ thời Lê trung hưng đến thời Nguyễn. Nội dung các bia nói về cung tiến công đức, gửi giỗ, các sắc phong, về việc tranh chấp 2 xã Thổ Hà và Yên Viên và bản sao sự tích thánh. Cụ thể như sau:

  • Thủy tạo đình miếu bi” dựng năm Chính Hòa (1692) nói về quá trình xây dựng đình Thổ Hà.
  • “San lý đoạn bi” năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) về phán quyết đối với việc tranh chấp của 2 xã Thổ Hà và Yên Viên ruộng và bãi tha ma.
  • “Nhất cung tiến đại vương mã bi” năm Long Đức thứ 3 (1734) về việc tạo tác một đôi ngựa bạch, hồng và cung tiến vào đình.
  • “Bản xã nguyện bi” năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) về việc dùng tiền lãi đóng tô dung cho dân và dùng cho xướng ca thờ Thánh.
  • “Tự Đức nhị thập tứ niên ngũ nguyệt nhật” năm Tự Đức thứ 24 (1871) khắc 4 bản sắc phong thời Lê của đình.
  • “Ký kỵ thạch bi” năm Tự Đức thứ 11 (1858) vể việc gửi giỗ cho 2 anh em ông Bùi Tá Thông và Bùi Tá Cơ.
  • “Long phi Tân Mùi mạnh hạ tạo bi” năm Tân Mùi (thời Tự Đức 1871) khắc 4 sắc phong thời Cảnh Hưng thứ 44, Cảnh Thịnh, Quang Trung và Tự Đức.
  • “Cung sao thánh tích” năm Thành Thái thứ 9 (1897) khắc sự tích về Thái Thượng Lão Quân.

Trong đại đình còn có bảng văn Mục lục, ca ngợi phong cảnh và quê hương Thổ Hà.

Thần tích các vị thành hoàng  Lý Lão Đam Thượng đẳng thần, Thái Hậu Đoan Ý Phu nhân cùng 3 vị tổ nghề gốm sứ (Khởi nghệ tiên triết Đào Kính Trí, Tiên thánh sư Hứa Vĩnh Phúc, Tiên thánh sư Lưu Phong Tú) hiện còn được lưu giữ tại viện Hán Nôm.

5. LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC VĂN HÓA

Lễ hội chính: 

Lễ hội làng Thổ Hà là một trong những lễ hội đặc sắc đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2012. Hội lệ được tổ chức trong ba ngày 20, 21, 22 tháng Giêng âm lịch. Hiện nay, hội Thổ Hà ba năm mới tổ chức rước một lần.

Lễ hội Thổ Hà tôn vinh Thành Hoàng làng Lão Tử. Phần lễ chính của hội là rước hai kiệu chính là Kiệu Ông và Kiệu Bà. Người tham gia đoàn rước là nhân dân ba xóm của làng Thổ Hà. Đoàn rước chính là nét đặc sắc nhất của Lễ hội Thổ Hà. Vào ngày chính hội 21 tháng giêng, từ sáng sớm đoàn rước đã tập trung tại Từ chỉ làng Thổ Hà. Đoàn rước rất phong phú, có rước cờ Thần, cờ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, cờ Tứ linh Long Ly Quy Phương. Đặc biệt có các nhân vật ba ông Tam Đa và hai em đóng Tiên đồng Ngọc nữ, đội quan tướng mặc trang phục tuồng cổ. Đoàn rước có đội múa sinh tiền nam thanh thiếu niên, đội múa tiên nữ thanh thiếu niên, đội múa trống của các xóm. Lễ vật luôn có mâm lễ bò nguyên con và các đồ lễ. Đoàn rước tiến chậm rãi về đình làm lễ tạo nên phần đặc sắc nhất của hội Thổ Hà.

Phần hội xưa có nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đu, đi chữ, đập niêu, đi cầu kiệu… Diễn xướng dân gian hát quan họ trên sông, hát tuồng, hát chèo, hát ca trù cũng là nét đặc sắc khác của hội Thổ Hà. Thổ Hà là một trong những làng quan họ cổ của tỉnh Bắc Ninh.

6. KẾT LUẬN

Văn bản công nhận di tích: Đình Thổ Hà đã được xếp hạng là di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia theo Quyết định số 29-VH/QĐ của Bộ Văn hóa ngày 13 tháng 01 năm 1964.

Ngày 11/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 266/QĐ-TTg xếp hạng Quần thể Di tích kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh là Di tích quốc gia đặc biệt.

Di tích đình Thổ Hà

Bức Cửa võng đình Thổ Hà được công nhận là bảo vật Quốc gia

Câu đối và kiệu cổ đình Thổ Hà.

Rước kiệu Thánh Ông trong lễ hội Thổ Hà.

Tiên đồng, Ngọc nữ, Tam đa trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Quan tướng trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà.

Hát quan họ trên sông bên bến Thổ Hà.