Showing posts with label Triệu Vũ Đế. Show all posts
Showing posts with label Triệu Vũ Đế. Show all posts

Thursday, September 19, 2024

Thần tích xã Ha Xá

Bộ Lễ triều Lê Thượng thư Quản giám tri điện vâng sao ngọc phả báu cổ truyền

Hoàng đế bệ hạ khâm phung sắc chỉ và thần hiệu là:

  • Đệ nhất Tuấn triết Hồng huân tôn thần Thượng đẳng
  • Đệ nhị Linh ứng tôn thần
  • Đệ tam Anh linh tôn thần.

Sắc phong ba vị đại vương

Hùng chấn linh thanh, 
Tôn nghiêm chính thuận.
Anh dục sơn xuyên, 
Tú chung hà hải.
Cao phối thiên, hậu phối địa, bảo quốc hộ dân, 
Hách quyết thanh, trạc quyết linh, truyền phù quốc kỳ.
Nguy đức tuấn liệt, 
Phổ huệ thuỳ hưu. 

Vua kế ngôi truy phong, lễ có tăng phẩm trật, tuyên tặng vị thứ nhất là Thượng đẳng, vị thứ hai và thứ ba là Tôn thần Trung đẳng. Cho phép trang Ha Xá (xã Mỹ Giang cũ) tổng Vĩnh Lại, huyện Đa Cẩm, quận Thượng Hồng, trấn Dương Tuyền, phụ lão vâng lĩnh sắc văn ba vị, rước về phụng thờ, để cùng giúp bảo hộ lê dân. Vâng thay!

Xưa Phiên Ngung là đất danh hương. Đất bằng, sông đẹp. Trong lại có Lục Giả là tướng Lạc hầu. Đương thời Hán Quang Vũ lấy người thiếp cung tần thứ ba, hết mực sủng ái. Bà chuyên tâm tạo phúc, tích thiện, làm điều nhân, sớm tối hương khói thờ phụng Thượng đế, ba sinh hương lửa một cảnh phong lưu dư giả, giàu có sao. 

Vào một ngày tháng Giêng năm Quý Hợi bà cung tần thứ ba Lê Thị Lang nửa đêm mộng thấy ánh sáng đỏ chiếu đầy nhà, chốc lát có một con rắn hoa trắng cuốn khúc bò tới, hóa thành ba đóa hoa sen trắng. Bà họ Lê giơ tay lấy được ba đóa hoa sen trắng đó. Thế là bà có thai. Mang thai được 13 tháng, đến ngày 13 tháng Hai năm Giáp Tý thì trở dạ. Ngày 15 thì đến kỳ sinh một người con mặt đẹp như hoa đào, sắc sáng rọi nước hồ. Người người đều mừng là bậc danh tướng, danh thần, không phải người thường ở nhân gian có được.  

Đến một ngày tháng Giêng năm Đinh Mão, bà Lê Lang lại mộng thấy một cây đào có một cành, nở hoa kết thành hai quả. Thế rồi có mang thai. Mang thai một năm rưỡi đến ngày 12 tháng Chín năm Mậu Thìn thì trở dạ. Ngày 15 thì đến kỳ sinh. Khi sinh hương thơm bay ngào ngạt, diện mạo khác thường, hình dung quý phái. Cha mẹ thấy việc sinh người con thứ nhất mặt đẹp như hoa đào, ôn lương chính trực nên đặt tên là Tuấn Lương. Người con thứ hai và thứ ba sinh đôi cùng bọc nở ra hai anh em, rạng rỡ vạn đời như thánh thần nên đặt tên là Anh Dung và Lang Hà. Tài năng như sông núi, tư chất thông minh, hiểu biết hơn người. Ở yên một phòng mà tự học đọc xem sách, không cần người chỉ dạy. Lại thạo đàn sáo, tinh thông âm luật. Đến khi trưởng thành, văn võ toàn tài.

Khi ấy Hán Quang Vũ đến nước Văn Lang chiêu tập quân sĩ được 13 vạn, phao lên là 30 vạn quân. Đem quân đến nước Văn Lang mưu đồ chiếm nước. Chia thành hai lộ thủy bộ mà đi. Đến Loa thành chia nhau đánh Đông dẹp Tây, bày binh bố trận để đánh với quân Thục. Thục Vương có Rùa vàng tháo móng để làm lẫy nỏ thần, bắn trong một phát diệt được hai ba trăm người, nên quân Triệu đánh không lại, phải về giữ ở quận Vũ Ninh. Lại chọn ngày lành dẫn quân đến đền Phù Đổng ở Tiên Du, lập đàn chay thành tâm bái yết trời đất và bách linh các nơi. Xuất giáng một ông lão cao hơn 8 thước, râu tóc bạc trắng, xuống ngồi ở nơi đàn tế, cười nói nhảy múa. Mọi người thấy vậy lấy làm lạ, vào tâu với Triệu Vương. Vương thân đón ông lão vào trong đàn, rồi hỏi:

  • Nay ta muốn dẹp Thục Vương chiếm nước, trừ tàn. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão tính toán bấm quẻ hồi lâu rồi nói với Triệu Vương rằng:

  • Như nay chiếm nước phải dùng nhân tài, phong tước cho Tuấn Lương cùng với hai người em. Thiên hạ này sẽ được yên trị. Tự nhiên nghiệp đế sẽ hưng vậy.

Lời nói vừa dứt thì bay lên không mà biến mất. Vương biết là lời dạy của thiên thần, bèn lệnh cho sứ giả đi chiêu tập ba người anh em, quả là nhân tài võ nghệ, đại lượng khoan dung. Triệu Vương triệu tập trăm quan, vào ngày lành lập đàn phong tước, bái Tuấn Lương là Tổng thống, bái Anh Dung là Lạc hầu, bái Lang Hà là Thứ sử. Lại ban cho 5.000 binh mã thành một đạo đi hướng Đông. 

Triệu Vương thầm bày mưu kế, cử trăm quan cầu hôn với con gái của Thục Vương. Triệu Vương có con trai Trọng Thủy cầu hôn với Ngốc Nương (tức Mỵ Châu). Vợ chồng hết mực tin tưởng, yêu thương nhau. Trọng Thủy hỏi Mỵ Châu rằng:

  • Vua ta có vật gì là chân quý?

Mỵ Châu nói:

  • Vua cha có lẫy nỏ, chính thực là Rùa vàng đã tháo móng để làm lẫy, có thể địch được trăm ngàn người.

Trọng Thủy ngầm lấy một lẫy nỏ khác mà đổi đi, rồi nói với vợ rằng:

  • Có chiếc gối gấm lông ngỗng này hãy mang theo người. Đến đâu thì rải nơi ngã rẽ để biết dấu đường vậy.

Trọng Thủy trở về, báo với Triệu Vương. Vương lập tức gọi Tuấn Lương đến bàn bạc, định ngày phát binh tới đánh. Triệu Vương dẫn một đạo quân, giao cho quan Tuấn Lương cùng hai ông em dẫn 5.000 quân, lập tức đến thành Phong Khê bày trận đánh Thục Vương. Vương thấy nguy bèn lấy nỏ thì đã thấy mất lẫy. Thục thua to. Vương cưỡi ngựa ngồi ở trước, Mỵ Nương ngồi đằng sau. Chạy tới cửa sông Nghệ Hoan thì gọi: 

  • Rùa vàng cứu ta.

Rùa nổi lên, hô rằng:

  • Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đó, Hãy giết đi.

Rùa đón Thục chúa xuống thủy cung. Quân sĩ thua to. Triệu Vương thắng lớn, cùng với quan Tuấn Lương dẫn quân về thành, tụ tập quân sĩ đãi yến ăn mừng. 

Vào giờ tốt ngày mùng 10 tháng Giêng năm Đinh Hợi, Quang Vũ lên ngôi, lập đô ở Phiên Ngung, phong tước thăng cấp cho quan Tuấn Lương, cai quản thiên hạ thái bình, nhân dân no đủ. Bèn phân quan chức, định ra quốc luật. 

Ngày 12 tháng Mười một năm Ất Mùi, Tuấn Lương bị bệnh, thân thể mệt mỏi, dựa vào lan can mà mơ màng thiếp đi. Ngày 14 quan Anh Dung và quan Lang Hà cũng bị cảm sốt. Tuấn Lương trong cơn mê thấy một người, mình mặc áo xanh, tay cầm cờ vàng, tự xưng là thiên sứ, quỳ trước sân mà nói rằng:

  • Thượng đế có sắc sai gọi Tuấn Lương cùng với hai em về chầu Thượng đế.

Tuấn Lương tỉnh ra, dặn lại. Ngày 15, 16 không bệnh mà mất. Quan viên cùng bệ hạ trong triều đều thương xót. Đến ngày 15 tháng Tám, cùng hội nghị xét tên những trung thần có công lớn với nước, giao cho bộ lễ viết sắc thưởng công cho Tuấn Lương ở 72 đền thờ, cho tiền lập miếu, cùng với cấp cho phụng thờ, giao cho Quản giám đem sắc phong thần đến các trang sách chỗ các miếu đình. Khi đi đến huyện Đa Cẩm, dừng ở đó, tề tựu trang Ha Xá, tổng Vĩnh Lại trao cho phụ lão sắc văn ba vị đón về phụng thờ. Phụ lão cùng nhau nghênh thỉnh danh sư đến trang này, xem thiên văn địa lý, thấy đúng là trang Ha Xá có núi bằng nước đẹp, là đất có thế quý, xây một tòa dựa Càn hướng Tốn, dựa Mão hướng Dậu. Tòa nhà này có ấn đường thẳng giữa tạo án, hai sông hợp dải, phía sau có rồng vòng ôm ấp, lại có dòng nước chầu đến, Huyền vũ quay quanh, đất đẹp thế tinh phong, phát nhiều đinh, giàu có, sau này có giai nhân đẹp đã, ngoại giao anh hoa. 

Trang Ha Xá phụng thờ muôn năm hương lửa thêm sáng, trải các đời linh thiêng như còn đó. Khi sinh có võ công rạng rỡ anh linh giúp vận nước. Khi hóa tất được trang sách thờ tự tôn nghiêm, bảo hộ cho sinh dân. Trang này được nhờ ơn đức lớn lao vậy.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ nhất ngày lành tháng giữa thu, Quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền lại tuân theo bản chính của triều trước vâng sao.

Đình Ha Xá


Saturday, April 20, 2024

Sách mới: Long Hưng Triệu Vũ Đế, tư liệu và luận giải

Sách LONG HƯNG TRIỆU VŨ ĐẾ, TƯ LIỆU VÀ LUẬN GIẢI.

Nguyễn Đức Tố Lưu, Thích Tâm Hiệp, Nguyễn Đức Tố Huân,
Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt

Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.

Trong các sách vở lịch sử ngày nay, vị hiền quân Triệu Đà đang phải chịu những nỗi “oan ức” khó giải về thân thế và sự nghiệp của ông. Nhưng có một sự thật không thể bác bỏ đó là vua Triệu được thờ một cách tôn kính ở rất nhiều ngôi đền lớn trên miền Bắc nước ta từ hàng trăm năm nay như một vị Đế vương khai cơ hiển hách của nước Nam người Việt.

Cuốn sách Long Hưng Triệu Vũ Đế, tư liệu và luận giải đã tiếp cận vấn đề nhà Triệu từ những các di tích, di sản văn hóa ở khắp các vùng trên miền Bắc, kết hợp với những phát hiện khảo cổ mới trong những năm gần đây để đưa ra những luận giải có tính đột phá làm rõ thân thế, sự nghiệp không chỉ cho vua Triệu Đà, mà cả thời kỳ nhà Triệu nước Nam Việt.

Triệu Đà xuất thân áo vải, làm quan huyện ở Kiến Xương - Thái Bình, giương cờ khởi nghĩa kháng Tần ở núi Châu Sơn - Bắc Ninh, thấy rồng bay lên ở Long Biên mà thành nghiệp chiếm thành Cổ Loa rồi thống nhất thiên hạ, lên ngôi là Triệu Vũ Đế. Nối tiếp cơ nghiệp của ông là Triệu Quang Phục, chống giặc ở đầm Dạ Trạch, xưng Đế ở Phiên Ngung, lập nên tuyên ngôn Nam quốc sơn hà, đối lập với nhà Tây Hán. Nhà Triệu truyền 5 đời tới Vệ Dương Vương thì kết thúc ở cửa Đại Nha bên bờ biển Nam Định – Ninh Bình.

Lời bài ca trù tế thánh ở đền Đồng Xâm như tóm tắt công nghiệp nhà Triệu:

Nam Hải Kiến Xương cơ, hùng tranh Hán Bắc
Phiên Ngu Chân Định đỉnh, đế thủy Viêm Nam.

Cuốn sách không chỉ là một khảo luận lịch sử độc đáo mà còn là tài liệu hướng dẫn giá trị về văn hóa tín ngưỡng đối với các vị vua nhà Triệu đã khai cơ mở nước Nam người Việt. Khảo cổ các lớp thành Cổ Loa, niên đại các đồ đồng Đông Sơn tìm thấy ở nước ta, con Rồng đá bên Giếng Việt miền Châu Sơn, tấm bia Xá lợi tháp minh ở Luy Lâu... là những bằng chứng vật chất rõ ràng của thời kỳ Nam Việt. Nguồn tư liệu thành văn rất phong phú về phả tích, sắc phong, hoành phi, câu đối, văn tế các vua Triệu được dịch và giới thiệu kỹ lưỡng tại mỗi đền miếu ở từng vùng văn hóa tín ngưỡng liên quan.

Không dừng lại ở khảo cứu các vị vua nhà Triệu, cuốn sách còn luận giải những giai đoạn lịch sử liên quan khác là thời kỳ Thục An Dương Vương và thời Tiền Lý Nam Đế bằng những tư liệu điền dã phong phú và nhận định tổng hợp sâu sắc. Long Hưng Triệu Vũ Đế là cuốn sách không thể thiếu với bất kỳ con dân nước Nam nào quan tâm đến quá khứ hào hùng mở nước trị dân của các bậc tiền nhân người Việt.

Sách in khổ 16x24 cm, dày 710 trang, gồm các phần chính:

Lời nói đầu

  1. Những nỗi oan của vị vua mang tên Triệu Đà
  2. Cổ Loa thành trên Lạc quốc
  3. Chân Định Kiến Xương cơ      
  4. Vũ Ninh dấy nghĩa
  5. Long Biên ngày kháng Tần
  6. Nam quốc sơn hà
  7. Đại Nha hải khẩu
  8. Nam Việt Úy Đà diễn nghĩa
  9. Di tích và lễ hội về nhà Triệu và các nhân vật cùng thời
  10. Thống kê các di tích thờ Triệu Đà, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương
  11. Sắc phong và văn tế vua Triệu
  12. Tài liệu tham khảo

Bản chụp một số tư liệu Hán Nôm

Thursday, December 7, 2023

Phả chép về một vị Đại vương thời Triệu Vũ Đế (Thần tích làng Ninh Sơn, tổng Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông)

Phả chép về một vị Đại vương thời Triệu Vũ Đế

Chi Cấn, bộ Trung đẳng.

Đất Việt xưa trời Nam khởi vận, núi sông chia cương vực theo sao Dực Chẩn, xe sách cuốn nối, các vùng đất An Nam đẹp tựa đuôi chim, phân cách thẳng hướng sao Đẩu Ngưu. Nam tới Minh đô Giao Chỉ, xếp vào hàng thư lễ. Sách Ngũ đế đức thời vua Nghiêu chép rằng Việt Thường Thị dâng một con rùa thần ngàn tuổi, lưng có chữ khoa đẩu, ghi lại từ khi khai mở đến nay. Vua Nghiêu sai chép làm lịch rùa. Sách Thượng thư Đại truyện chép thời Chu Thành Vương Việt Thường Thị vào cống chim trĩ trắng, một con trĩ đen, một cặp ngà voi. Quốc thống đến nay bền lâu vậy. Tuy vậy đến nay kể cũng đã xa xôi, Ngoại kỷ, Bản kỷ, Tiền biên, Hậu tục cho tới gần thời bây giờ mà tính đã vài ngàn năm. Quốc thống có lúc chia lúc hợp, chính trị có lúc được lúc mất. Phong tục thuần hậu hay ngang ngạnh khó mà luận được.

Lúc quốc sơ họ là Hồng Bàng, ban đầu nhận mệnh vua là Kinh Dương, là hậu duệ họ Thần Nông. Ban sơ Đế Minh phong vua là Kinh Dương Vương trị phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy tiên nữ Động Đình, sinh ra Lạc Long Quân, kế nối quốc thống Kinh Dương, có điềm sinh trăm trai, thực là thủy tổ của Bách Việt. Như khi khởi đầu của trời đất nếu đã có người nuốt trứng dẫm vết mà sinh ra Thương Chu, tất có thuyết sinh trăm trứng. Trưởng tử của Lạc Long lấy tên là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, dựng nước Văn Lang, bèn chia thành 15 bộ để thống trị, định ra tên quan để nhận chức, thường xăm hình lên thân mình để tránh các loài thủy tộc, dịch tiếng nhiều lần để thông hiếu với Trung châu. Truyền rằng bách thần sông núi thường có thể xuất thế, khó biết rõ ở nơi nào. Như thế mà truyền 18 đời, trải 2600 năm, tất phong tục trở nên đôn hậu, cũng có thể nghĩ đến vậy.

Sau này vua ỷ mình có sức thần mà không tu sửa việc võ nên mất. Lại truyền tới Thục An Dương Vương thắng được Văn Lang, do không tu đức để yên dân chúng, khinh suất tin vào con rể nên cuối cùng đã bại. An Dương có trí dũng nên Triệu Vũ không địch lại nổi. Tuy nhiên, Thục vì một nữ nhân mà có uy chiếm Văn Lang, lại cũng vì một nữ nhân mà bị họ Triệu thôn tính. Truyền rằng Vua bắt đầu thế nào thì kết thúc cũng như vậy, là lẽ đó vậy. Thục đế vong.

Trải tới thời đầu Tây Hán, ở trang Thụy Hương, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây người trong trang có một nhà họ Lý tên Phụng, lấy vợ là Đào Thị Thanh. Gia cảnh túng quẫn, nhưng tấm lòng vẫn đều có đức dày. Khi ấy vợ chồng cùng đến phủ Ninh Sơn ở trang Ninh Sơn ở lại đó, lấy việc kiếm củi làm nghề sinh nhai hàng ngày, dần dân trở nên giàu có. Tuổi đã gần 50 mà còn chưa có con trai. Một hôm nghe nói ở Ninh Sơn có một ngôi đền rất thiêng, thường có báo ứng, vợ chồng ông bèn sắm sửa lễ nghi vào trong đền làm lễ cầu khấn. Đêm đó Thái bà nằm mộng bỗng thấy có một người cao lớn đường đường, thân khoác áo hồng, đứng trước án mà nói:

- Gia đình khanh có đức dày. Trời đã định cho ta đầu nhập làm con, xuất thế giúp nước. Ngày sau sẽ được nhờ, xin chớ lo lắng.

Nói xong liền biến mất. Bỗng thấy một ánh sao hào quang rơi thẳng xuống miệng, bèn nuốt lấy. Bà sợ hãi tỉnh dậy, kể lại cho ông nghe. Ông nói rằng đó tất là điềm lành. Đến sáng ngày vợ chồng ông làm lễ tạ. Từ đò trở về cố hương ở Từ Liêm ở. Lại thấy bà Đào Thị có mang thai. 

Đến năm Giáp Tý tháng Giêng ngày mùng 9 sinh hạ được một người con trai, thiên tư cao lớn, thể mạo khôi kỳ, cao tới 2 trượng. Ông biết đó là thiên tướng giáng sinh, thần linh xuất thế bèn đặt tên là Trọng. Khi ông lên 7 tuổi học lực tinh thông, đọc hiểu binh thư, tài về võ lược. Mỗi khi ra nơi can trường thì có cái dũng vạn người không đương. Đến khi tuổi 20 cha mẹ đều mất. Sau 3 năm chịu tang ông bèn vào Tần làm quan, làm đến chức Tư lệ Hiệu úy, dẫn quân đánh giặc Hung Nô ở Lâm Thao. Quân Hung Nô thua to bỏ chạy. 

Đến khi Triệu Vũ Đế họ Triệu tên Đà, người Hán đất Chân Định, khi Tần loạn chiếm cứ Lĩnh Biểu, mưu lấy Âu Lạc. Xe mui vàng, cờ cắm trái tự xưng đế một phương, cũng là bậc có khí lược anh hùng. Thế rồi Triệu Đà gọi ông Lý Trọng cho tướng cầm quân phương Nam, dẫn quân đánh Thục. Ông Trọng nhận mệnh. Tức thì ông Trọng đem quân thủy bộ năm nghìn quân tiến đến huyện Ninh Sơn, phủ Quốc Oai, đạo Sơn tây (Ninh Sơn sau đổi thành An Sơn), đóng quân tập trung ở trang Ninh Sơn. Ông đến bái yết đền thần, cho gọi phụ lão trang Ninh Sơn đến nói: 

- Cha mẹ ta vốn ngày trước nghèo nàn, đến ở trang này, lấy nghề hái củi sinh sống. Cho nên ta chính là thần của bản trang giáng sinh xuất thế. Vì vậy ta đến đóng ở đây để xem tình trạng thế nào, không phải là quân lạ xâm phạm, xin đừng sợ.

Khi đó phụ lão nghe vậy rất vui mừng, đều làm lễ bái hạ, xin làm gia thần. Ngay hôm đó ông bèn truyền binh sĩ cùng nhân dân lập nên một đồn để sau này chống quân Thục. Rồi ông tìm người trong trang khỏe mạnh, được 50 người làm gia thần thủ túc. Ngày hôm sau thấy có sứ giả mang thư lệnh đến, gọi ông dẫn quân đánh đạo Bắc của giặc Thục. Ông bèn hôm đó giết mổ làm cỗ trâu, tế cáo trời đất sông núi bách thần, rồi cất quân tiến đến đạo Kinh Bắc, thành Cổ Loa, hội bàn kế tấn công. Ngày hôm đó cùng quân Thục đánh một trận lớn. Quân Thục thua to, chém được chính tướng cùng với các tì tướng và quân sĩ vài ngàn đầu. Giặc thua chạy không biết đi đâu. Từ đó họ Triệu là Đế, thần dân được yên bình. Lập nước quy mô. Ông mới than rằng:

- Sinh mệnh của hàng vạn người đều dựa vào đây, mà ta sở dĩ phá giặc Thục là do trời đã giúp ta vậy.

Ông bèn nói với gia thần trang Ninh Sơn rằng:

- Sau này ta trăm tuổi để cho việc thờ tế có 10 nén vàng, ngày sau hãy mua thêm đất đai cho việc thờ cúng.

Khi ấy đang trời mùa xuân vào ngày đầu thượng tuần tháng Hai thấy có sứ giả của Triệu đem thư tới, trong đó nói rằng khi giặc Thục đã thua chạy, hôm đó đã dâng tấu lên Triệu Vương, vua ban chiếu gọi ông về phụng mệnh. Vua mở tiệc mừng lớn, gia phong tướng sĩ các cấp, bèn cho ông nhận thực ấp ở huyện Ninh Sơn. 

Ông bái tạ, phản hồi về nơi ở tại Ninh Sơn (sau thuộc phủ Ứng Thiên thành Thăng Long). Ngay hôm đó ông truyền cho phụ lão và nhân dân trong trang tu sửa đền miếu, làm cho nghiêm trang. Ông bày tiệc mời phụ lão nhân dân Ninh Sơn đến. Đang lúc yến tiệc bỗng thấy trời đất nổi lên một đám mây vàng lớn, hình như dải lụa đỏ từ trên trời rơi thẳng xuống trước miếu. Lại thấy ông theo mây mà đi, tức hóa vậy. Khi đó là ngày mùng 10 tháng 8 giờ Ngọ. Nhân dân kinh sợ bèn làm lễ dâng biểu tấu lên triều đình. Vua sai quay về làm lễ tế, lại cho trang Ninh Sơn làm nơi hộ nhi để phụng thờ.

Đến khi Cao Biền đánh Nam Chiếu có hiển linh phù trợ. Biền cho tu sửa miếu đền để thờ. Từ đó trở thành thường lệ.

Đến thời Tống niên hiệu Thái Bình sai Hầu Nhân Bảo dẫn 20 vạn quân, thủy bộ cùng tiến, chia đạo xâm chiếm nước Nam. Khi ấy Lê Đại Hành tự dẫn đại quân mười vạn chống cự, tiến đến huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên thì gặp đạo quân thủy tiến đến. Đế bèn đóng quân ở bên bến sông. Đêm đó cần khấn ở đền thần để thần âm phù dẹp giặc Hầu, sẽ phong thêm là Trung đẳng phúc thần. Rồi vua xuất chiến, quân Nguyên quả nhiên thua, tướng Nhân Bảo cùng quân tùy tùng đều giết ngay. Lại bắt được đại tướng Biện Phụng Huân, dẫn về kinh, khải hoàn. Sau đó khi đãi tướng sĩ nhân đó nói rằng:

-  Giặc Nguyên dẹp sạch cũng có thần trợ giúp vậy.

Bèn phong thêm cho bách thần. Phong Lý Trọng Tế thế Hộ quốc Khang dân Phù vận Dương võ Bảo cảnh Hiển ứng Anh linh Hùng kiệt Đại vương. Màu áo hồng đỏ khi làm lễ đều cấm.

Lại nói, từ đó về sau có nhiều linh ứng, nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự. Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên đến xâm phạm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo bách thần ở các đền. Qua một đêm Đại vương đã có hiển ứng, âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn bao phong mỹ tự là Linh ứng Anh triết Hiển hữu.

Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, rồi có được thiên hạ, Thái Tổ bèn phong thêm là Phổ tế Anh linh. Sắc chỉ ban cho trang Ninh Sơn tu sửa đền miếu để thờ phing. Tốt thay! Lành thay!

Vâng khai sinh hóa các lễ và các húy tự nhất thiết cấm là Phụng, Thanh, Trọng. Đồng ý cho trang Ninh Sơn phụng thờ.

Ngày sinh thần là mùng 9 tháng Giêng. Lễ chính dùng trên là cỗ chay, dưới là cỗ trâu, xôi, rượu, bánh dày, ca hát, đấu vật các trò, ba ngày thì ngừng.

Ngày hóa là mùng 10 tháng 8. Lễ chính dùng trên là cỗ chay, dưới là trâu đen, xôi, rượu, bánh dày.

Niên hiệu Thành Thái năm thứ 10 tháng 3 nhuận ngày 19 xã Ninh Sơn vâng sao chính bản từ chính thể có niên hiệu Hồng Phúc năm thứ nhất của Hàn lâm bộ Lễ Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính đã vâng soạn, niên hiệu Vĩnh Hữu thứ 6 Quản giám Bách linh Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền chính bản cũ.

Xã Ninh Sơn vâng sao chính bản sự tích.

Lý trưởng Nguyễn Huy.

Thursday, October 19, 2023

Hai vị nữ chủ của người Việt cổ

Nếu không kể đến những vị mẫu chủ thời kỳ huyền thoại như mẫu Tây Thiên, mẫu Thần Long Động Đình, mẫu Âu Cơ, mẫu Ma Thị Cao Sơn thì sử Việt còn kể đến những vị nữ thủ lĩnh thiên hạ khác, với công tích, sự nghiệp cũng rất hiển hách, không kém gì các vị đế vương.

Ân Hậu Ma Cô Tiên

Vị nữ thủ lĩnh rất cổ được biết là từ thời nhà Ân. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể thời Tần, Thôi Vĩ ở chân núi Trâu Sơn đã đến Ân Vương thành, được Ân Hậu tiếp đãi, rồi được Ma Cô Tiên ban cho phúc lộc ra về. Ma Cô Tiên đã trở thành vị phúc thần, thọ thần phổ biến trong văn hóa truyền thống, thường được thể hiện trong bức vẽ Ma Cô hiến thọ.

Ở chùa Ma Cô Tiên tại làng Châu Cầu, xã Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh còn có tấm bia Thánh Tổ Cô Tiên tự bi ký, cho biết Ma Cô Tiên được tôn xưng là Thánh tổ tại đây. Sắc phong của làng Châu Cầu gọi bà là Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa.

Ân Hậu Ma Cô Tiên cũng chính là Bạch Kê tinh trong truyền thuyết ở chân núi Ma Lôi (núi Sái, Đông Anh) khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Mẫu Bạch Kê còn được thờ trên núi Thất Diệu (Yên Phong, Bắc Ninh) gần đó với sự tích là một công chúa con vua Hùng. Cũng ở vùng này còn có sự tích các Cô tiên đã giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa nhưng không thành.

Câu đối ở đền mẫu Bạch Kê:

Hồng Lạc di phong trang thể thế
Tiên Long dư duệ khải hồng cơ.

Nghĩa là:

Hình thể trang nghiêm, di dấu từ Hồng Lạc
Cơ đồ to lớn, dòng dõi vốn Tiên Rồng.

Ma Cô Tiên còn hiển linh dưới thời Hai Bà Trưng, giúp các vị nữ tướng của Trưng Vương. Như ở Bồng Mạc, Liên Mạc, Mê Linh bà đã tặng cho các tướng Ả Nang, Ả Nương chiếc áo tảng hình để chống giặc. Trong các sự tích này bà được gọi là Ma Bà.

Ma Bà ở Phùng Dị, Quế Võ, Bắc Ninh

.

Thánh Tổ Cô Tiên tự bi ký ở chùa Châu Cầu, Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh.

Nhự Nương Trình Thị Hoàng Hậu

Vị nữ chủ công nghiệp hiển hách khác là bà Trình Thị Hoàng Hậu, vợ của vua Triệu Đà. Văn tế ở đền Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình) ca ngợi:

Huy nguyệt phủ nhi hùng, kiêm thất quận đế thuỷ Viêm bang
Hoành ngọc thoa nhi nghi, biểu lục cung mẫu nghi thiên hạ.

Dịch nghĩa:

Vung búa nguyệt hào hùng, gồm thâu bảy quận, là Đế mở Viêm bang
Nâng thoa ngọc uy nghi, biểu chính sáu cung, là Mẫu nghi thiên hạ.

Ở Đồng Sâm có lễ tục hát ca trù là lễ Chầu Cử vào ngày giỗ của Triệu Vũ Hoàng Đế. Tư liệu của đền Đồng Sâm còn lưu lại được 8 bài ca trù chầu thánh và có một bài văn tế tổ nghề ca công. Những tư liệu này đã được đưa vào hồ sơ công nhận của UNESCO cho Ca trù là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp năm 2009.

Lời một bài ca trù ở Đồng Sâm ca ngợi Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu:

Cơ khai thất quận, quy mô không thị Hạng Tần
Biểu chính lục cung, nghi phạm viễn đồng Cơ Tự.

Nghĩa là:

Bảy quận mở nền, quy mô không thua Tần Hạng
Sáu cung chính tỏ, khuôn phép sâu như Tự Cơ.

Trình Thị Hoàng Hậu còn được thờ ở làng Nhự Nương (Trực Ninh, Nam Định). Theo thần tích Nhự Nương tại đây bà đã xây dựng căn cứ kháng chiến,  tích trữ quân lương, chiêu dụ anh hùng để chống giặc. Bà cũng đã từng thoát vòng vây của kẻ thù ở khu vực này mà về với Triệu Vương.

Câu đối ở đền Nhự Nương:

Thục thận khuê nghi, thất quận sơn hà tư nội trị
Thanh cao miếu mạo, thiên thu hương hỏa hiển anh linh.

Dịch nghĩa:

Vẻ ngọc thục hiền, non sông bảy quận riêng nội trị
Miếu mạo cao sáng, hương lửa nghìn thu tỏ anh linh.

Tên Nhự Nương còn trùng với tên vị Vua bà Nhữ Nương là Thủy tổ Quan họ ở làng Diềm (xã Hòa Long, huyện Yên Phong, Bắc Ninh). Vua bà có tên phong là: Đương cảnh thành hoàng Thiên tử Nhữ Nương nam nữ Nam Hải Đại Vương. Tên Nam Hải Đại vương, cũng trùng với tên hiệu thờ của Triệu Vũ Đế ở Đồng Sâm, là Nam Hải Tôn ninh Triệu Đại vương. Cụm tên “Thiên tử … nam nữ” tương ứng chỉ rằng đây là cặp vợ chồng làm vua Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng Hậu.

Cùng làng Diềm có ngôi đình nổi tiếng có bức cửa võng chạm khắc tinh xảo. Làng Diềm thờ 5 vị thành hoàng là Đô Thống, Giáp Ngọ, Nhữ Nương Nam Hải, thánh Tam Giang (Trương Hống) và Ngũ Vị. Theo ghi chép tại đây thì thánh Tam Giang Trương Hống là vị tướng có công theo Triệu Việt Vương đánh giặc. Thần Nam Hải là một nữ thần đã báo mộng âm phù cho thánh Tam Giang dẹp giặc. Như vậy mối liên hệ về thời gian giữa Vua bà Nhữ Nương Nam Hải với nhà Triệu rất rõ. Có thể nhận định rằng Vua bà Thủy tổ Quan họ Nhữ Nương Nam Hải cũng chính là Trình Thị Hoàng Hậu, người được coi là tổ nghề ca công ở Đồng Sâm.

Cùng với nhận định Triệu Vũ Đế là Hiếu Cao Tổ Lưu Bang thì Trình Thị Hoàng Hậu chính là Lữ Hậu. Trình Thị thiết Trĩ, là tên cúng cơm của bà Lữ Hậu. Lữ Hậu mới là người đã “biểu chính lục cung”, mở đầu các nghi lễ tam cung lục viện từ thời nhà Hiếu (Tây Hán).

Cái tên Nhữ Nương hay Nhự Nương khi đọc phản thiết cho chữ Nữ hay Lữ, là chỉ họ của Lữ Hậu. Nhự Nương Trình Thị do đó tương đương với Lữ Trĩ, không ai khác chính là Hoàng Hậu họ Lữ của nhà Hiếu.

Lữ Hậu còn là bậc “tiền bối” của Ả Lã, tức Trưng Vương vào thời sau này. Truyền thống “nữ trung hào kiệt” của người Việt đã có từ thời trước Công nguyên.


Việc tôn thờ các vị nữ chủ là một truyền thống lâu đời của người Việt và trong sử Việt đã không ít lần xuất hiện những vị nữ chủ hiển hách. Đây hoàn toàn chẳng phải chế độ “mẫu hệ” gì. Đơn giản là thời thế tạo anh hùng, các nữ anh hùng cũng không ngoại lệ. Thiên hạ chuyển mình, xã hội phát triển qua những cuộc “cách mạng”. Vai trò của các nữ chủ nổi lên vào thời thế đó, ngược lại, cho thấy sự tiến triển vượt bậc của xã hội Việt thời cổ.

Tượng Trình Thị Hoàng Hậu ở đền Đồng Sâm, Kiến Xương, Thái Bình.

Một trang chép bài ca trù ở đền Đồng Sâm.



Thursday, September 28, 2023

Thần tích Ma Cô Tiên ở Châu Sơn

Dịch theo bản khai thần tích thần sắc của làng Phùng Gị, tổng Phù Lương, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh.

Lại nói, tương truyền rằng ở Kinh Bắc có bộ Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, huyện Vũ Ninh, xã Bằng Dực. Thời Hùng Vương, Ân Vương đem quân đến xâm chiếm nước Văn Lang, đến đất của trang này thấy cảnh đất núi non la liệt, hình như một con ngựa ngọc, nên đặt tên là Châu Sơn. Ân Vương trú binh tại đó.

Khi ấy Hùng Vương nghe tin, liền cầu đảo Long Quân. Long Quân hóa Phù Đổng Đại vương cưỡi ngựa sắt mà phá được quân Ân. Ân Vương chết ở dưới chân núi, làm vua Địa phủ. Trang dân ở châu đó lập miếu phụng thờ, thời thường tế lễ. Lâu ngày miếu suy trở thành hoang phế. Đến thời Tần có người bản trang nước ta là Túc Đặng làm quan nhà Tần đến chức Ngự sử Đại phu, thường qua miếu này, thấy cảnh hoang tàn, chạnh lòng thương cảm, cho tu sửa lại đền miếu để giữ việc tế tự. Lệnh cho dân bản trang tuân theo như trước mà thờ. Nhân đó ông Đặng dâng tế một bài thơ như sau:

Người xưa kể lại chuyện Ân vương

Tuần thú năm nao đến địa phương

Nước biếc núi xanh quanh miếu vắng

Hồn đi dấu để vẫn nghe hương

Một phen thắng bại Ân đức hết

Vạn thế uy linh trấn Việt Thường

Trăm họ rồi đây đều phụng sự

Phù trì vận nước vững vô cương.

Sau này có người Triệu Đà dẫn quân trị nước An Nam, đóng quân ở tại núi, đến nơi miếu mà nghiêm trang thờ tự. Khi đó Ân Vương cảm ơn phục trợ uy linh của ông Túc Đặng bèn sai một đệ nhất mỹ nữ tên là Ma Cô Tiên, giáng sinh vào ngày mùng 6 tháng Giêng năm Mậu Thìn, đến ngày mùng 10 tháng 10 thì thăng hóa, để giúp tương trợ dân nghèo, khai khẩn ruộng vườn, dựng nên một cái chợ. Cái chợ này có tên là Việt, nay là chợ Nghè. Giúp dân an nghiệp, dư giả. Một hôm người bản trang bỗng thấy trên mặt đất mưa to gió lớn nổi lên, sấm nổ chấn động, biết là ngài đã có linh ứng. Người dân cảm công đức đó bèn lập đền phụng thờ, hương khói không ngừng.

Đến triều Lê Đại Hành niên hiệu Thiên Phúc bỗng có quân Tống Quách Kiếm dẫn quân đến xâm lăng. Vua Lê nghe tin, trước khi xuất quân đến đền thiêng ở bản trang cầu đảo, cầu mong được sự ứng hiện. Vua Lê dẫn quân thẳng tới đồn giặc mà đánh. Trước trận bỗng thấy mưa to gió lớn nổi lên. Quân giặc đều kinh sợ, tự phải rút lui. Vua bèn ban cho khải hoàn, ban cho trang thuộc vào các trang giúp Vua, lại  ban thêm cho người bản trang một trăm quan tiền để lo cúng tế Quân phu, bao phong mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần. Vạn cổ hưởng thần cùng với quốc gia an nhàn, mãi là lệ thức. Thịnh sao!



Tuesday, July 18, 2023

Lưu hầu Trương Lương ở… chùa Hà

Khu vực chùa Hà ở Dịch Vọng (Hà Nội) thờ vị Đại Vương là Triệu Chí Thành, Đô thống Nguyên soái của Triệu Việt Vương. Sự tích đầy đủ của vị Đại vương này được chép trong thần tích hai giáp Thọ Tháp và Bối Hà dưới đây.
Điều lạ trong thần tích Bối Hà là không hề nói gì tới Lý Bôn (Lý Nam Đế), cho dù lại kể việc Triệu Việt Vương vào hồ Điển Triệt, rồi động Khuất Liêu chống giặc. Sau đó Triệu Việt Vương lên ngôi thiên tử, xưng Đế. Có thể thấy, Triệu Việt Vương trong thần tích này chính là Triệu Vũ Đế – Lý Bôn – Lưu Bang, chứ không phải Triệu Quang Phục.
Đại vương Chí Thành nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Ngài ngày ngày thường ở riêng một chỗ, tự xem sách, không cần người chỉ dạy, giỏi đàn sáo, tinh thông âm luật. Đến khi trưởng thành ngài tài đủ văn võ, phẩm chất hơn người, anh hùng vượt đời xưa, tính tình lương thiện, khoan hòa trung chính, giỏi bày mưu lược, nuôi dưỡng hùng tài.
Đoạn kể này không khác gì nói về Trương Lương, mưu sĩ số 1 của Lưu Bang. Trương Lương từng lập mưu ám sát Tần Thủy Hoàng khi đi Đông du, nên rất có thể Trương Lương đã từng đến vùng đất Bắc Việt nước ta ngày nay, vốn là nơi Tần Thủy Hoàng ra biển Đông gặp đạo sĩ Yên Kỳ Sinh tìm phương thuốc trường sinh.
Điểm đáng chú ý khác là Đại vương Chí Thành rất giỏi âm luật và đàn sáo. Tiếng sáo của Trương Lương cũng đã đi vào sử sách khi nó được dùng để phá tan quân Sở của Hạng Vũ bên sông Ô Giang.
Khi Triệu Việt Vương chống quân Lương gặp khó khăn, Đại vương Chí Thành đã lập đàn cầu khấn trời phật, và được Lão Phật giáng thế, ban cho tỉ phù làm bảo bối. Còn Trương Lương cũng nối tiếng với câu chuyện học được Thái công binh pháp của Khương Tử Nha. Đoạn trích Phật giáng trong thần tích Bối Hà cũng được chép trong Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả. Vị “Phật” ở đây không ai khác chính là Thái Công Lã Vọng của vua Hùng Văn Lang.
Đại vương Chí Thành còn là người đã dùng chiếc móng rồng mà Chử Đồng Tử trao cho Triệu Việt Vương làm ra nỏ thần, phá tan quân Lương ở sông Bình Giang, chém tướng Dương Sằn ở núi Phù Long. Tương tự như đã kể ở trên, Trương Lương là người đã thổi tiêu làm tan rã quân Sở, giết được Hạng Vũ bên bờ Ô Giang.
Sau khi Triệu Việt Vương lên ngôi Thiên tử, Đại vương Chí Thành mộng thấy Thiên tướng xuống triệu hồi về Thượng Đế, rồi hóa ở Thạch Bàn Long Đầu. Còn Trương Lương là đại công thần được Lưu Bang phong là Lưu hầu, nhưng cuối cùng xin được học phép tu tiên, không màng danh lợi mà mất.
Thạch Bàn là nơi Lã Vọng câu cá, Văn Vương cầu hiền, cũng là nơi Trương Lương trở về tìm gặp thầy của mình là Hoàng Thạch Công sau khi thành nghiệp, tức là khi quay về tu theo tiên đạo.
Có thể thấy 2 sự tích về Đại vương Triệu Chí Thành ở Bối Hà và Lưu hầu Trương Lương hoàn toàn khớp nhau, nhất là một khi xác định Triệu Việt Vương là Lý Bôn – Lưu Bang.
Chữ Hà ở đây nghĩa là nhờ ơn. Bối Hà là nhờ ơn quý báu của bậc Tiên Phật danh sĩ đại công thần Trương Lương, một trong Hán sơ tam kiệt.
Thần tích giáp Thọ Tháp và Bối Hà, Dịch Vọng:

Giáp Thọ Tháp, giáp Bối Hà xã Dịch Vọng trung phụng sao thần tích

Ngọc phả triều Triệu Việt Vương

Do bộ Lễ triều Lê Thượng thư Quản giám tri điện vâng sao sự tích cổ truyền,

Hoàng đế Bệ hạ khâm phụng sắc chỉ cho thần hiệu.

Xưa Đại vương là người ở trang Thái Bình, Chu Diên. Đất này bằng phẳng, nước trong đẹp, có một nhà họ Triệu tên là Xương, lấy vợ là Lý Thị Thích. Vợ chồng chuyên tâm làm phúc, ngày ngày thắp hương khấn cầu Thượng Đế, ba kiếp hương đèn, một đời phong lưu, để rồi có dư phúc đức. 

Vào đêm 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất, bà Lý nằm mộng thấy hào quang đầy nhà, chợt có một con rắn hoa màu trắng cuộn bò tới, lờ mờ hóa thành bông sen trắng. Bà Lý cầm lấy. Thế rồi có mang. Mang thai độ một năm, ngày 10 tháng 1 năm Quý Hợi thì thai nhi vận chuyển. Đến ngày 11 thì hương thơm khắp nhà, ánh sáng chiếu soi trong màn trướng. Giờ Ngọ ngày 11 thì sinh hạ được một nam nhi, tướng mạo phi thường, hình dung đẹp lạ. Mọi người đều vui mừng, biết là trời đất cảm cách lòng trung thành mới đặt tên cho ngài là Triệu Chí Thành. 

Ngài ngày ngày thường ở riêng một chỗ, tự xem sách, không cần người chỉ dạy, giỏi đàn sáo, tinh thông âm luật. Đến khi trưởng thành ngài tài đủ văn võ, phẩm chất hơn người, anh hùng vượt đời xưa, tính tình lương thiện, khoan hòa trung chính, giỏi bày mưu lược, nuôi dưỡng hùng tài.

Bấy giờ, Triệu Vương đánh quân Lương Trần Bá Tiên mà chưa phân thắng bại. Triệu Chí Thành Đại vương huy động được ba ngàn quân đến theo Triệu Việt Vương dẹp giặc. Việt Vương phong cho làm Đô thống Nguyên soái, cấp cho 8 nghìn quân, đóng quân ở sông Tô Lịch, cự chiến với Trần Bá Tiên ở Gia Ninh. Bị thất bại, bèn cùng với Triệu Việt Vương vào động Tân Xương, đóng đồn quân ở Điển Triệt.

Vào ngày mồng 10 tháng 8 lại dẫn quân đánh ở Thí Mô. Quân Lương thua. Đuổi theo chém vô số. Quân Lương kinh sợ. Đến ngày 21 tháng 11 cùng với Bá Tiên đánh ở động Khuất Liêu. Triệu Việt Vương và Đại vương thua trận, nên rút về giữ Dạ Trạch để chống cự với quân Lương. 

Triệu Việt Vương lo sợ quân Lương đang rất mạnh. Ngày 5 tháng 5 Triệu Việt Vương lệnh cho Đại vương sắm lễ lập đàn, bái yết với trời đất, thần linh, cầu Phật cầu tiên, truyền hịch đi các châu huyện, nơi nào có tăng ni đạo sĩ thì đến đó đều cấp phát áo mũ, lệnh giảng chân kinh, thuyết pháp tu hành, mở rộng đạo nguyên, tiến cúng hương hoa, ngày đêm thơm phức.

Đại vương Chí Thành kính cẩn dâng sớ lên Thượng giới. Quả là chốn Cửu tiêu tuy xa, hương khói vẫn thấu tới mây từ, một tấm lòng thành mà cảm cách thông tới trời đất. Do trọng việc quỷ thần mà có thể một lần được thấy thưởng công. Cầu gì tất ứng, ước nguyện là được như ý. Bỗng thấy một ông lão râu tóc bạc trắng, cao hơn 7 thước, ngồi ở ngã ba đường, cười nói nhảy múa. Người dân thấy vậy đều lấy làm lạ, nên vào tâu lên Việt Vương.

Vương cung kín đón vào trong đàn, lệnh cho Nguyên soái bày tiệc mừng. Việt Vương thân hỏi rằng:

- Nay có đại tướng Lương là Trần Bá Tiên, Dương Sằn đến xâm chiếm, thắng thua thế nào, xin Lão ông chỉ giáo cho.

Lão ônng nói:

-   Ta là thần ở miền Tây Vực, sống lâu trong biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy rửa con đường Niết Bàn. Nay do thành tâm mà cảm cách, kinh kệ truyền thanh âm, khiến ta cảm ứng mà đến giúp vậy.

Việt Vương mừng thầm, người chuyên tâm thanh tịnh, ý trời tất sẽ thông. Lát sau, Lão ông bốc thẻ gieo quẻ, nói với Việt Vương rằng:

- Nay Hoàng đế thành tâm cầu đảo, trời ắt ứng cho. Ngày sau Chử Đồng Tử sẽ cho chiếc móng rồng. Chử Đồng Tử là con rể quý của vua Hùng. Còn nay lão có một vật quý của trời, dùng chế làm ấn tín, nên mài dũa để làm quốc bảo.

Nói xong Lão ông cưỡi mây mà đi. Vương mới biết đó là Phật, bèn bái vọng theo. Ngay hôm đó sai quan kính cẩn làm lễ chay bái tạ.

Đến ngày 18 tháng 6 Việt Vương cho lập Vọng Tiên đàn ở đầm Dạ Trạch, sai trăm quan văn võ đứng chầu nghiêm trang. Triệu Vương bái yết, cầu khấn:

- Xin Trời cho thần tiên giáng hạ để trước may được gặp mặt, sau là thỏa ước ba sinh vậy.

Đọc chúc xong liền bái tạ. Tụng niệm suốt ba ngày vẫn không thấy dấu tiên. Việt Vương bồi hồi, không biết làm thế nào. Vào giờ Ngọ ngày 21 chợt thấy mây trời ảm đạm, nước sông ù ù như nổi sấm vang. Giao long, cá, ba ba nổi hàng đàn trên muôn sóng. Côn, ngạc, kình nghê xếp cuồn cuộn trên sóng ngàn tầng. Điện vũ nguy nga, yên hà lấp lánh. Rồng mây bốn bề mờ ảo, ẩn hiện Phật quốc lâu đài. Non nước một bầu, như thấy Bồng Lai tiên cảnh. Phong quang tươi thắm, trăm hoa đua hương. Nhấp nhô những đỉnh non nhỏ, tựa rồng trắng giáng khí. Bỗng thấy một áng mây vàng rực rỡ từ phía Tây bay lại tụ ở trên đàn. Việt Vương bái yết. Lại thấy rồng thành năm sắc, Chử Đồng Tử cưỡi trên lưng rồng vàng, tháo móng rồng trao cho Việt Vương, mà nói:

- Dùng nó làm lẫy nỏ, thì không còn lo giặc nữa.

Rồi tự nhiên bay lên mà đi. Việt Vương mới biết là Chử Đồng Tử ban cho móng rồng, đúng như lời báo của Lão ông, sự việc quả không sai, bèn vọng bái.

Triệu Việt Vương từ khi có được ứng điềm móng rồng tới ngày 12 tháng 7 sai Đại vương Chí Thành chế nỏ, lấy móng rồng làm lẫy. Đến ngày mồng 3 tháng 9 đánh một trận ở sông Bình Giang. Quân Lương thua. Lại đánh trận ở bãi Quân Thần (nay là Thượng Hạ Cát). Quân Lương thua to.

Khi ấy nhà Lương có loạn Hầu Cảnh. Vua Lương triệu Trần Bá Tiên về nước, để lại Dương Sằn chống cự cùng với Triệu Vương. Việt Vương sai Đại vương Triệu Chí Thành tấn công Dương Sằn ở núi Phù Long mà phá được, chém và bắt được rất đông quân giặc. Chém được Dương Sằn ngay trên xe.

Đại vương quay trở về, đi qua trang ấp nào, phụ lão đều thắp hương bái yết, nghênh giá. Đại vương ban tặng 300 quan tiền để mua ruộng làm ruộng thờ. Lệnh lập hành cung để sau này có chỗ hưởng thần. Cả thảy có hơn 15 cung.

Vào ngày mồng 10 tháng 10 Đại vương đến khu đất giữa trang Dịch Vọng, thấy phụ lão nhân dân đều thắp hương bái mừng đón như vậy. Trên đường Chí Thành đi qua, giữa trang thấy có một thế đất núi bằng nước đẹp, liền ở lại mấy ngày. Ban cho phụ lão 500 quan tiền để dựng hành cung. Phụ lão tranh nhau mổ trâu khao hưởng quân sĩ. Đại vương đều từ chối.

Ngày 12 tháng 10 Ngài dẫn quân về thành Long Biên để tấu sớ. Triệu Việt Vương mở tiệc lớn mừng. Triều thần trăm quan đều đến chầu. Việt Vương lên ngôi Thiên tử, đóng đô Long Biên. Triệu Vương lên ngôi, thực thi đức hóa, khuyến khích cấy trồng, làm cho nhân dân không lo thiếu thốn, nước nhà có của cải tích lũy.  Khắp nơi thái bình, dân không dối trá. Tục luật được làm đơn giản, thuần phác. Xét cốt lõi việc chế trị đương thời rạng hơn đời trước. Đương thế gọi là vị vua hiền vậy.

Việt Vương phong Chí Thành ở thành Ô Diên (nay là Hạ Mỗ). Trong ngày 6 tháng 8, Đại vương  đêm mộng thấy một người mặc áo xanh, tay cầm cờ vàng, tự xưng là Thiên tướng, quỳ ở trước sân, nói rằng:

- Ngọc Hoàng Thượng Đế sắc chỉ triệu hồi ngài về chầu Thượng Đế.

Nói xong thì biến mất. Đại vương tỉnh dậy, gọi Phạm phu nhân, cùng các con tụ họp để lo chuẩn bị. Ngày hôm đó bỗng bị đau đầu, 3 ngày thân thể không yên. Triệu Việt Vương tự thân đến thăm, cầm tay Đại vương nói rằng:

- Trẫm nhờ ơn Ngài mà dẹp được giặc, yên ổn được nước. Nay Ngài bị bệnh đến như vậy, e khó qua khỏi.  Ngài có ý nguyện gì cho về sau này, Trẫm cũng sẽ  theo đó mà báo đáp được nhiều nhất có thể vậy.

Đại vương nói:

- Thần không có ý nguyện gì ngoài việc xin Bệ hạ đưa thần đến nơi đất đầu rồng bàn đá. Lá cờ dùng khi thần từng đánh giặc cũng đem đến. Thần tung cờ lên trên trời. Nếu cờ bay rơi ở đâu thì xin Bệ hạ cho địa phương nơi đó miễn tô thuế, các phục dịch, để cho việc thờ phụng thần được hưởng muôn năm không ngừng vậy.

Đế đều đồng ý. Tới ngày 12 Đại vương tung cờ lên trên trời rồi hóa. Đế than tiếc mãi không thôi, thật là thương xót. Bèn sai bề tôi một mặt xem cờ dừng ở địa phương nào thì dân địa phương đó lập tức đến kinh thành đón nghênh thần sắc về lập miếu phụng thờ. Mặt khác, lập miếu ở ngay chính nơi đầu rồng bàn đá, bao phong là Đại vương. 

Sứ thần theo cờ bay đến khu giữa Dịch Vọng, miếu Thọ Tháp thì cờ dừng ở tại đất đó. Nhân dân phụ lão lên kinh thành phụng nghênh thần hiệu. Triệu Vương cho miễn tô thuế và tạp dịch, ban cho tiền để lập miếu. Phụ lão vâng lĩnh tiền 38 quan, đón thần vị Đại vương. Mặt khác, bèn đón thỉnh thầy phong thủy nổi danh để tìm một khu có đủ thiên văn địa lý, lại đúng ở trong nơi hành cung trước đây. Khi hỏi kỹ phụ lão trả lời rằng:

- Đây đúng là chỗ hành cung cũ của Đại vương.

Phong thủy bèn lập hướng Càn Tốn kiêm dựa Nhâm Bính, hướng trước Cấn Khôn. Trước mặt có Sao vàng làm án. Sau có Mình rồng bao lót. Hai dòng nước hợp lại. Đất phát nhiều nam cường tráng, văn nhân tuấn tú. Khu vực xung quanh đó phụng thờ hàng năm hương hỏa, đời đời truyền thừa.

Đại vương khi sinh thời võ công hiển hách, tiếng tăm lẫu lừng, giúp bang lập quốc. Sau khi hóa các trang ấp địa phương có điển thờ phụng tôn nghiêm. Bảo hộ dân sinh. Lễ ấy, thờ ấy là mãi, là yên. Đẹp thay! Tốt thay! Mãi mãi không dừng!

Chánh hội Nguyễn Xuân Quyết,

Lý trưởng Đào Văn Hanh.

 


Monday, July 10, 2023

Nam Việt Úy Đà diễn nghĩa

Nam Việt Úy Đà liệt truyện trong Sử ký Tư Mã Thiên rõ ràng có nhiều “nỗi oan” của vua Triệu cần được xem xét, diễn giải lại, mà “nỗi oan” có thể thấy ngay được là thông tin Triệu Đà trị vì 70 năm, thọ 121 tuổi (!!!). Với tuổi thọ “không thể có” này của vua Triệu, có thể thấy những câu chuyện về vua nước Nam Việt sẽ không phải đơn thuần là chỉ kể về 1 nhân vật như truyện đã chép…

Triệu Vũ Đế khởi nghĩa kháng Tần

Các di tích hiện còn tới nay về nhà Triệu ở Việt Nam là nguồn bổ sung những dữ liệu quan trọng cho quá trình khởi nghĩa kháng Tần của Triệu Đà trên đất Việt. Thời Tần Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (cũng là huyện Nam Hải, theo thần tích Đồng Sâm), lấy vợ Trình Thị ở Đồng Sâm, Thái Bình mà lưu cư tại đây. Trình Thị đọc thiết âm là Trĩ, chỉ ra sự liên quan của vị hoàng hậu này với Cao Hậu, người có tên cúng cơm là Lữ Trĩ. Lưu Bang xuất phát ban đầu cũng là một đình trưởng nhỏ ở đất Bái, lấy vợ là họ Lữ và sống tại đó. Khu vực Thái Bình còn là nơi có nhiều di tích khởi nghĩa của Lý Bôn, người đã kết duyên cùng Hoàng hậu Đỗ Thị Khương. Thái Bình đọc phản thiết là Bái, tên vùng đất nơi Lưu Bang làm đình trưởng và lấy bà Lữ Trĩ.
Ngoài di tích ở Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình), Triệu Đà còn được kể đến ở một số khu vực khác. Trước hết, đó là núi Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh) nơi có tới 8 làng thờ Triệu Vũ Đế. Đây là căn cứ ban đầu khởi nghĩa của Triệu Đà chống lại nhà Tần. Di vật thời này còn tại đây là phần thân của con thần thú nửa rồng nửa phượng bằng đá lớn, hiện vẫn còn tại thôn Cựu Tự xã Ngọc Xá. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể ở núi này có con rắn lớn, trên trán có chữ Vương, chuyên ăn thạch nhũ. Còn Cao Tổ bản kỷ kể việc Lưu Bang khi ở núi Mang Đãng đã chém rắn trắng, là con Bạch Đế mà khởi nghĩa.
Không xa núi Vũ Ninh, ở xã Ngô Cương (Gia Bình, Bắc Ninh) có sự tích kể Triệu Đà khi lâm trận thất thế, được một đám mây đỏ hạ xuống che chở mà thoát nạn. Câu chuyện này khá giống với việc Lưu Bang khi bỏ vào rừng núi Mang Đãng kháng Tần thì bà Lữ Trĩ luôn thấy có đám mây lành trên nơi Lưu Bang trú ngụ.
Khi quan úy Nam Hải là Nhâm Hiêu thấy phản loạn các nơi nổi lên chống lại nhà Tần, Nhâm Hiêu bàn với Triệu Đà chặn con đường nhà Tần mới mở đến Việt để tự giữ. Nhâm Hiêu chết, Triệu Đà thay, “lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê” để chặn đường, tự phòng thủ. Chi tiết này trong thần tích Đồng Sâm đã cho thấy con đường mà nhà Tần mở ra trên đất Việt là chạy từ vùng Cao Bằng (Hoàng Khê?) qua Bắc Kạn (Dương Sơn) tới Quảng Ninh (Hoàng Bồ). Trên con đường này Tần Thủy Hoàng đã làm cuộc Đông du, ra biển Đông, gặp đạo sĩ Yên Kỳ Sinh nơi chân núi Yên Tử ở Đông Triều. Cửa ải cuối cùng của con đường Tần – Việt này là Hoành Bồ, thuộc Quảng Ninh, gần bãi biển Hạ Long ngày nay.
Di tích quan trọng khác là ở khu vực Long Biên, đặc biệt là đình Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Đây là nơi Triệu Đà đã thấy rồng bay lên trên sông Nhị, bắt đầu “Long Hưng” lập nghiệp đế vương, tấn công vào trị sở của Tần lúc đó ở Cổ Loa. Thần tích Đồng Sâm cũng kể Triệu Đà đánh Thục, đóng quân ở Tiên Du, Bắc Ninh.
Sử ký Tư Mã Thiên ghi Triệu Đà giết các trưởng quan do Tần xếp đặt, dùng bè đảng của mình thay vào làm quận thủ. Nếu không phải là một cuộc “khởi nghĩa vũ trang” thì làm sao Triệu Đà có thể giết được các quan lại nhà Tần một cách dễ dàng như vậy? Long Hưng cũng là tên quê hương của Lý Bôn, người đã nổi lên đánh chiếm Long Biên, lập nước Vạn Xuân.
Thần thú ở núi Vũ Ninh.

Nam Việt lập quốc

Sử ký Tư Mã Thiên ghi, khi Tần bị diệt vong, Đà liền đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương, Sau khi Cao Đế bình định thiên hạ, do Trung nguyên lao khổ nên bỏ qua không giết Đà. Nhà Hán năm thứ 11, sai Lục Giả nhân đó lập Đà làm Nam Việt Vương, cùng chẻ tín phù để thông sứ.
Đoạn sử hết sức quan trọng này về việc Triệu Đà xưng Vương, nhưng cũng lại hết sức khó hiểu, gây lầm lẫn. Nhà Tần diệt vong năm 206 TCN, còn Cao Đế năm thứ 11 là năm 196 TCN, ngay năm sau đó Lưu Bang mất. Hai sự kiện cách nhau tới 10 năm. Triệu Đà nếu đã xưng là Nam Việt Vũ Vương từ năm 206 TCN rồi thì sao mãi mười năm sau, đến cuối đời Lưu Bang mới cho người đến phong Vương cho Nam Việt? Người khởi nghĩa ở Chân Định chống Tần đã là Lưu Bang thì ai là người xưng Vũ Vương vào năm 206 TCN?
Vấn đề Nam Việt Vũ Vương được làm sáng tỏ nhờ nhận định: Triệu Đà khởi nghĩa ở miền Bắc Việt là Lý Nam Đế, cũng là Hiếu Cao Tổ Lưu Bang. Vì Lý Bôn – Lưu Bang đều xưng Đế của cả Thiên hạ Trung Hoa, nên người xưng Vương ở Nam Việt không phải là Triệu Đà.
Theo thần tích Hạ Mạo (Phú Thọ), Hậu Hùng Vương tên là Chàng Ánh, vốn là dòng dõi vua Hùng thứ 17 nước Văn Lang, được ban cho họ Lê, lấy vợ là con gái Đông Chu Quân (tức An Dương Vương). Khi Tần (Thục) chiếm được miền Bắc Việt, Chàng Ánh đã không khuất phục mà tự lập ở Việt Tây (Quảng Tây), xưng là Hậu Hùng Vương. Người con út của Hậu Hùng Vương đã được cử đem ba ngàn quân tham gia cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà.
Triệu Đà lên ngôi là Vũ Đế, nhưng vẫn cắt Quảng Tây cho Việt. Sau 6 năm Hùng Ánh Vương lâm bệnh.... Đến khi Hùng Ánh Vương lâm chung... bèn ban tên Chàng Út Lôi Mao, cho tự cai quản. Ngày 15 tháng 8 Hùng Vương băng hà, Chàng Út phát tang, kế vị, xưng là Việt Tây Út Ngọ Lôi Mao Đại vương. Vũ Đế cho lệnh sách phong. Ba năm tang lễ xong, Vương cho hoàng hậu họ Triệu giám quản đất nước... Vũ Đế mới ban sắc: Cha truyền con nối là lễ thế tập...
Đối chiếu với Nam Việt Úy Đà liệt truyện thì:
  • Triệu Đà khởi nghĩa ở Đường Sâm, Vũ Ninh, Long Biên là Triệu Vũ Đế - Hán Cao Tổ - Lý Nam Đế.
  • Khi nhà Tần sụp đổ, thiên hạ phân chia, chư hầu tranh giành, người đã chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, tự xưng Nam Việt Vũ Vương là Hậu Hùng Vương họ Lê.
  • Hơn 9 năm sau, tính từ khi Tần vong, tức đúng là quãng năm 196 TCN, Triệu Vũ Đế - Hán Cao Tổ sắc phong cho Út Ngọ Lôi Mao làm Nam Việt Vương. Vì Chàng Út là con rể Triệu Vũ Đế, nên từ đó Nam Việt Vương lấy Triệu làm họ.
Như vậy, người được Lưu Bang cử Lục Giả sang sắc phong ở Nam Việt không phải là Triệu Vũ Vương, mà là Triệu Văn Vương. Nhận định đột phá này cho phép giải quyết được vấn đề tuổi thọ 120 năm của Triệu Đà, vì trong 70 năm trị vì Nam Việt có tới 3 vị vua nối nhau: Triệu Vũ Đế - Lưu Bang, Triệu Vũ Vương - Lê Hùng Ánh và Triệu Văn Vương - Út Ngọ Lôi Mao.
Nhìn theo dòng sử khác của thời Tiền Lý Nam Đế, thì khi Lý Bôn chiếm Long Biên dựng nước Vạn Xuân, có Triệu Quang Phục tham gia khởi nghĩa, được phong là Tả tướng. Lý Nam Đế rút về hồ Điền Triệt là sự kiện Lưu Bang bị Hạng Vũ đuổi vào vùng Hán Trung. Triệu Quang Phục được Lý Bôn giao phó, ở lại giữ Long Biên, chống lại quân họ Hạng (truyền thuyết gọi là giặc Lương) không được, phải rút về vùng đầm Dạ Trạch ở Khoái Châu (Hưng Yên), dùng lối đánh du kích mà cầm cự trong nhiều năm. Cuối cùng Triệu Quang Phục cũng đuổi được quân Hạng ra khỏi Bắc Việt. Không lâu sau đó, Quang Phục dẫn quân dẹp loạn Lâm Ấp thắng lợi, thanh thế ngày càng lớn.
Tới khi Lưu Bang giết được Hạng Vũ, lên ngôi Hoàng đế thì vùng phía Nam đã nằm trong phạm vi cai quản của cha con Triệu Túc và Triệu Quang Phục. Triệu Túc là dòng quý tộc Lạc tướng Chu Diên, tức chính là Hậu Hùng Vương, người bắt đầu chiếm cứ quận Quế Lâm - Quảng Tây từ thời Tần. Quang Phục nhận sự ủy thác của Lý Nam Đế đóng quân ở quận Nam Hải (Long Biên) và rồi chiếm được cả vùng Lâm Ấp. Với địa bàn như vậy, không khó hiểu khi Triệu Túc tự xưng là Nam Việt Vũ Vương ngay khi Lưu Bang và Hạng Vũ còn đang tranh hùng thiên hạ.
6 năm sau, Lê Túc - Triệu Vũ Vương mất, khoảng năm 199 TCN. Quang Phục kế vương vị của cha, tiếp tục đánh chiếm mở rộng địa bàn và đi khắp nơi trong nước an định dân tình. Triệu hậu nắm giữ quyền triều chính khi Quang Phục không ở trong triều.
3 năm sau khi mãn tang cha, Triệu Quang Phục, tức Út Ngọ Lôi Mao, nhận sắc phong và phẫu phù của Hiếu Cao Tổ, trở thành Triệu Văn Vương. Đây mới là lý do chính việc Nam Việt Vương đã tiếp đãi sứ giả của Hán là Lục Giả một cách hậu hĩ, lưu giữ trong cung mấy tháng, tặng tơ lụa, trang sức, ngàn vàng. Nam Việt chính thức ra nhập nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế Lưu Bang dưới dạng một phiên vương nội thuộc.
Lý Nam Đế và Hoàng hậu Đỗ Thị Khương ở Thái Bình.

Triệu Văn Đế Hưng Quốc

Phần lớn các chư hầu là công thần được Lưu Bang phong vương khi tranh hùng cùng Hạng Vũ đều nhanh chóng bị Lưu Bang tìm cách loại bỏ sau khi lên ngôi. Tề Vương Hàn Tín, Lương Vương Bành Việt, Cửu Giang Vương Anh Bố, Triệu Vương Trương Ngao, Yên Vương Lư Quán lần lượt theo nhau ra đi. Danh hiệu phong vương chỉ còn đối với những người con của Lưu Bang.
Trong bối cảnh đó thì mới thấy Nam Việt Vương ngang nhiên tồn tại, lại còn được chính Lưu Bang phong vương, phải là một thế lực mạnh như thế nào. Chắc chắn Nam Việt Vương là đại công thần và có quan hệ thân thích với Hiếu Cao Lưu Bang.
Thời Cao Hậu, nhà Hiếu không bán đồ sắt cho Nam Việt. Nam Việt Vương cho rằng đây là âm mưu của Trường Sa Vương muốn phế bỏ tước vương của Nam Việt. Một lần nữa thông tin trên lại cho thấy sự tranh giành vương vị thời kỳ này khốc liệt như thế nào. Trong số các chư hầu nhà Hiếu, Nam Việt Vương là vị vương có thế lực mạnh nhất, uy hiếp trực tiếp đến Đế vị của nhà Hiếu.
Cao Hậu cử Long Lự Hầu Chu Táo xuất quân đánh Nam Việt nhưng đã nhận thất bại thảm hại. Cao Hậu mất. Triệu Việt Vương lúc này không còn phải kiêng dè gì nữa, công khai xưng chế, tức là xưng Đế toàn thiên hạ. Nhân đà binh uy đó, Triệu Văn Đế chiêu dụ luôn 2 vùng đất Mân Việt ở phía Đông và Tây Âu Lạc trở thành nước chư hầu của nhà Triệu. Trung Hoa lúc này chia thành 2 đế quốc. Nhà Hiếu làm Đế ở phương Bắc. Nhà Triệu xưng Đế ngang hàng với nhà Hiếu, đi xe mui vàng, cắm cờ tả đạo, ở phương Nam. Đất đai nhà Triệu Đông Tây dài vạn dặm.
Bằng chứng xác đáng về hiệu xưng Đế của Triệu Văn Đế là ngôi mộ Triệu Mạt đã phát hiện ở Quảng Tây. Trong mộ đã tìm được bộ ấn vàng, đặc biệt nhất là ấn "Văn Đế hành tỉ", xác nhận chắc chắn rằng người xưng Đế Nam Việt là Triệu Văn Vương. Quy mô, mức độ phong phú và quý giá của các hiện vật trong mộ cho thấy nó không kém gì mộ của các vị Đế của nhà Hiếu cùng thời. Ngoài ấn Văn Đế hành tỉ trong mộ còn có "ấn Đế", khẳng định ngôi Đế của nhà Triệu.
Cao Hậu mất, các trung thần nhà Hiếu đã tôn người con của Lưu Bang là Đại Vương Lưu Hằng (vị Vương ở đất Đại) lên ngôi, là Hiếu Văn Đế. Ngay trong năm đầu tiên khi lên ngôi, Hiếu Văn Đế đã phải vội vã giải quyết quan hệ với nhà Triệu. Lục Giả, người từng đi sứ phong Vương cho vua Triệu, một lần nữa được cử đi sứ Nam Việt.
Lý do Lục Giả đưa ra để thuyết phục Triệu Văn Đế bỏ xưng chế là chuyện mồ mả người thân và con em ở Chân Định đang thuộc nhà Hiếu. Lý do này thực là "lãng xẹt" vì xét ra vua Triệu đã hơn nửa thế kỷ không về quê, mồ mả với người thân đâu có quan trọng so với ngôi Đế nữa. Hợp lý hơn như theo truyền thuyết Việt cho biết, Triệu Việt Vương nghĩ đến ân tình cũ với Lý Nam Đế (Lưu Bang) từ khi khởi nghĩa kháng Tần nên mới đồng ý giảng hòa với Lý Phật Tử - con cháu họ Lưu.
Triệu Văn Đế là con của Triệu Túc, dòng dõi nhà Chu, nên mồ mả và người thân ở đây phải chăng là chỉ tông miếu và con cháu của Chu Vương? Chỉ khi vua Triệu thực sự xuất thân là quý tộc từ thời Chiến Quốc thì mới có mồ mả và dòng dõi ở phương Bắc.
Sau chuyến đi sứ của Lục Giả, Triệu Văn Đế đồng ý bỏ xưng chế và xưng là phiên vương khi thông sứ. Nhưng trong nước ông vẫn dùng ấn và nghi lễ Đế vị như thường, mà bằng chứng là những chiếc ấn vàng trong lăng mộ của ông ở Quảng Tây.
Một chi tiết mà Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép không rõ ràng là về Triệu Hồ. Sử ký chép Hồ là cháu Triệu Vũ Đế nhưng không rõ thời gian mất, tựa hồ như chuyện của Triệu Hồ được ghép vào dòng sử nước Nam Việt vậy. Lăng mộ tìm được ở Quảng Tây cho thấy Văn Đế có tên là Triệu Mạt. Và Văn Đế là người đã xưng Đế, chứ không phải ở thời kỳ đã bỏ Đế hiệu như Sử ký chép.
Chuyện Triệu Hồ là cháu của Triệu Đà có lẽ là chép theo truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy. Sự thực thì Trọng Thủy là con của nhà Tần họ Triệu, chứ không phải nhà Triệu nước Nam Việt. Triệu Hồ phải chăng tương đương với công tử Hồ Hợi, tức Tần Nhị Thế?
Cuối thời Triệu Văn Đế đã xảy ra chuyện Mân Việt Vương đánh phá biên giới với Nam Việt. Triệu Văn Đế muốn lợi dụng quân đội nhà Hiếu nên báo cho nhà Hiếu xin giúp binh. Không ngờ quân Mân Việt tự mâu thuẫn nội bộ mà tan. Triệu Văn Đế đành phải tạ ơn nhà Hiếu bằng cách cho thái tử Anh Tề vào chầu làm con tin.
Văn Đế hành tỉ.

 
Đế ấn trong mộ Văn Đế Triệu Mạt ở Quảng Tây.

Nam Việt vong quốc

Như vậy Triệu Văn Đế mất năm Kiến Nguyên thứ 4 (137 TCN), là năm mà Sử ký chép Triệu Vũ Đế băng hà. Anh Tề làm con tin ở Trường An hơn chục năm, quay về kế vị. Anh Tề lập tức dấu đi Đế ấn.
Hành động dấu ấn này khá khó hiểu. Anh Tề dấu ấn để làm gì? Trong cách nhìn mới thì hành động này có thể hiểu là Anh Tề đã bỏ việc dùng Đế hiệu mà Triệu Văn Đế vẫn duy trì ở trong nước. Anh Tề trở thành Triệu Minh Vương, thần phục nhà Hiếu.
Rất có thể Đế ấn này là chiếc móng rồng mà thần nhân đã trao cho Triệu Quang Phục ở đầm Dạ Trạch. Anh Tề là Nhã Lang trong truyền thuyết Việt, đã dấu móng rồng thần đi, dẫn đến việc Nam Việc mất nước.
Những diễn biến tiếp theo của nhà Triệu Nam Việt thì đã khá rõ ràng. Minh Vương mất, con thái tử Hưng lên nối ngôi, là Triệu Ai Vương. Mẹ là Cù hậu làm Thái hậu, truyền thuyết Việt gọi là Cảo Nương.
Do đã đánh mất Đế hiệu, thần phục nhà Hiếu nên mẹ con Cù hậu đã bị thừa tướng họ Lữ giết. Kiến Đức được Lữ Gia lập làm vua Triệu Vệ Dương Vương.
Nguyên Đỉnh năm thứ 5, Hậu Lý Nam Đế cho Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc và Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tấn công, Phiên Ngung thất thủ. Vua Triệu cùng Lữ Gia lên thuyền chạy về đến cửa Đại Nha ở Nam Định thì bị bắt. Nhà Triệu nước Nam Việt chấm dứt từ đây.

Niên biểu nhà Hiếu và nhà Triệu.